Kênh thông tin tổng hợp

M

Thể lệ thi quan võ thời phong kiến Việt Nam

Ngoài thi văn học, từ thời Lê trung hưng, triều đình phong kiến Việt Nam còn thi tiến sĩ võ, với cách thi được sử sách ghi lại khá chi tiết.
Theo bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái năm thứ 4 (1723), chúa Trịnh Cương định lệ tổ chức kỳ thi võ đầu tiên, gọi là thi bác cử, năm sau cho tiến hành. Triều đình quy định 3 năm một lần, vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì thi ở các trấn, gọi là “sở cử”, 4 năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi hội ở kinh đô gọi là “bác cử”.
Khoa thi đầu tiên này, chúa Trịnh Cương rước nhà vua thân đến xét duyệt. Khoa đó lấy đỗ 11 người, đều được công nhận là tạo sĩ xuất thân, với Nguyễn Công Tự, người huyện Đông Sơn, Thanh Hóa đứng đầu, ngoài ra thì cho đỗ tam trường. Đó là 11 võ tiến sĩ đầu tiên của nước ta.
Theo sử sách, trong số những võ tiến sĩ đầu tiên này, thì về sau các ông Văn Đình Dận (người Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), Hoàng Nghĩa Bá (người huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc, nay là huyện Gia Lâm, Hà Nội) sau đều là các danh tướng một thời.
Từ khoa thi đó về sau, cứ 3 năm một lần thi, chúa Trịnh đều tự chuyên quyền xét duyệt, không cần đến sự có mặt của vua Lê nữa
Theo sách Lê sử tục biên thì phép thi “sở cử” như sau: Trước hết hỏi sơ lược về võ kinh, sau đó, trong ba kỳ đệ nhất, đệ nhị và đệ tam, đều thi về võ nghệ. Người nào trúng cách, gọi là viên sinh (như bậc sinh đồ khoa thi Hương); quan viên tử, quan viên tôn (con, cháu các quan) trúng cách, gọi là biền sinh (như người đỗ nho sinh khoa thi Hương).
Sau đó, đến thi về phương pháp mưu lược việc binh. Người nào trúng ngay ở kỳ này, gọi là học sinh (như bậc hương cống trong thi văn); quan viên tử, quan viên tôn trúng được, gọi là biền sinh hợp thức (giống như nho sinh trúng thức khoa thi Hội).
Còn về phép thi “bác cử”, thì ở kỳ đệ nhất, sẽ hỏi sơ lược về ý nghĩa bảy bộ sách binh thư. Bộ sử Cương mục chú giải bảy bộ sách gồm Lục thao tam lược của Thái Công, Binh pháp của Hoàng Thạch Công, Tôn Tử, Ngô Tử, Tư Mã và vấn đáp của Uất Liêu Tử, Lý Vệ Công.
Ở kỳ đệ nhị, thi võ nghệ, kỳ đệ tam, hỏi sơ lược một bài văn sách. Người nào trúng tuyển được vào thi ở sân phủ Chúa, kỳ này người nào hợp cách được làm tạo sĩ. Nếu người nào trong hai kỳ đệ nhất, đệ nhị thi võ nghệ được tinh thông thành thạo, mà kỳ đệ tam bài văn sách không được hợp cách, thì chọn lấy người trội nhất gọi là tao toát, được cùng tạo sĩ bổ dụng như nhau.
 
Kỳ thi đầu tiên này, có 527 thí sinh dự thi trường nhất, vào trường nhì còn 172 thí sinh thi võ nghệ, lấy 62 người trúng cách.
Theo Kiến văn lục của Lê Quý Đôn, thì năm Bảo Thái thứ 5 (1724) đặt trường thi bác cử ở sở Thịnh Quang (khu vực Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội ngày nay). Sách này cũng cho biết chi tiết kỳ thi, ở kỳ đệ nhất, hỏi mười câu về ý nghĩa trong bảy bộ sách binh thư; kỳ đệ nhị, thi hai tao võ nghệ: trước hết thi cưỡi ngựa múa đầu mâu, sau thi đấu siêu đao, lăn lá chắn và múa gươm giáo, căn cứ vào sự so đọ được hay thua để định người hơn người kém, sau đó lại xét duyệt người nào có khí sắc hùng dũng được thăng lên một bậc, người nào kém phải tụt xuống một bậc.
Phép “xét duyệt khí sắc hùng mạnh”, bộ Cương mục giải thích là dùng một cái dùi đồng, ngoài bọc rạ, đánh vào đỉnh đầu thí sinh 3 lần, nếu người nào mắt không chớp, thân không rung động, là người ấy được.
Đến kỳ đệ tam, thi văn sách hỏi cách thao luyện và phương lược về phép bày trận để đánh kẻ địch, giữ thành trì.
Khoa này định thứ tự cho tạo sĩ mới được trao quan chức lần đầu như sau: người đỗ vào hạng ưu được bổ hàm chánh lục phẩm, người đỗ trung hạng và thứ trung được hàm tòng lục phẩm, người thứ thủ được chánh thất phẩm. Về điển lệ ban ân cho tạo sĩ cũng như tiến sĩ (bên văn).
Sách Lữ trung tạp thuyết của Bùi Huy Bích cho biết từ đầu niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông đã có các cuộc xét duyệt võ nghệ, người trúng cách được bổ sung làm tuấn sĩ. Đến sau khi nhà Mạc cướp ngôi, rồi nhà Lê trung hưng, thường xuyên định thời kỳ xét duyệt ở trong phủ chúa, chọn người có phương pháp mưu lược và người có quân công ở các cơ hiệu, rồi liệu lượng tài năng để bổ dụng.
Tuy nhiên, tác giả Bùi Huy Bích cho biết, kỳ thi võ này sau cũng dần dần đi đến chỗ gian lận xảo trá, người ta nhân bám vào đấy mà làm thành cái “chợ buôn bán thi cử”.
Theo sử sách, triều Lê mạt, kể từ khoa thi đầu tiên đó có tất cả 19 khoa thi võ đã diễn ra, trong đó có 13 kỳ dưới triều vua Lê Hiển Tông, tất cả lấy đỗ 199 tạo sĩ.

Phân biệt giữa sấy thăng hoa và sấy chân không

Sấy chân khôngsấy thăng hoa là những phương pháp sấy tốt nhất hiện nay. Bởi với cả hai phương pháp sấy này đều cho sản phẩm đầu ra rất ngon, đẹp mắt, giữ được chất và hương vị rất tốt. Sấy chân không và sấy thăng hoa là hai quy trình sấy khác nhau nhưng nhiều người lại lầm tưởng đó cùng là một phương pháp sấy. Để giải đáp thắc mắc của một số độc giả, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về hai quy trình sấy thăng hoasấy chân không.
Để hiểu được hai phương pháp sấy chân không và sấy thăng hoa ta cần phải hiểu rõ được quy trình sấy của hai phương pháp này.

Phương pháp sấy chân không

Sấy chân không là phương pháp sấy trong môi trường gần như chân không (hiện nay các nhà khoa học chưa thể tạo ra được môi trường chân không mà chỉ là môi trường gần như chân không mà thôi).
Vật sấy được đưa vào buồng kín, sau đó sử dụng máy bơm chân không để tạo môi trường chân không. Môi trường chân không mà chúng ta tạo ra thì áp suất rất nhỏ, khoảng 50mmHg (Môi trường trên trái đất có áp suất 760mmHg).
Ở môi trường áp suất nhỏ nước sẽ sôi ở nhiệt độ rất thấp khoảng 30-40 độ C. Khi nước sôi đồng nghĩa với sự bốc hơi nước diễn ra rất nhanh làm cho vật sấy khô nhanh hơn với sấy nhiệt thông thường.
Nhiệt độ sấy thấp cũng làm cho sản phẩm đầu ra giữ được màu sắc, hương vị tốt hơn. Không những thế mà giữ được cấu trúc vật lý của sản phẩm.
chuối sấy chân không
Chuối sấy chân không

Phương pháp sấy thăng hoa

Phương pháp sấy thăng hoa là phương pháp sấy phức tạp hơn sấy chân không. Sấy chân không là giai đoạn cuối cùng của sấy thăng hoa nên nhiều người mới lầm tưởng sấy chân không và sấy thăng hoa là một.
Sấy thăng hoa có hai quy trình chính:
Đầu tiên, người ta sẽ đưa vật sấy vào phòng lạnh, làm đóng đá nhanh với nhiệt độ rất thấp -40 - -80 độ C.
Sau đó vật sấy được đưa vào buồng sấy chân không và sấy như phương pháp sấy chân không.
rau đong lạnh
Vật sấy được làm đông đá trước khi sấy chân không
Điều khác biệt giữa sấy thăng hoa và sấy chân không chính là quy trình làm đông đá vật sấy. Khi nước trong sản phẩm sấy đang ở trạng thái rắn đưa ngay vào máy sấy chân không nước sẽ chuyển sang thể khí mà không chuyển qua thể lỏng như thông thường. Đó chính là thăng hoa.
Khi sấy thăng hoa vật sấy sẽ bị làm đông đá gần như ngay lập tức, điều này giúp vật sấy giữ được cấu trúc vật lý tốt hơn với sấy chân không. Sau khi sấy chỉ nước trong sản phẩm bị hút ra ngoài nên giữ được nhiều chất dinh dưỡng, màu sắc và có độ giòn.

Mẹo học luật lái xe ô tô

TÓM TẮT LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ


I/ Các câu hỏi khái niệm

1.Các câu hỏi khái niêm có từ( Phần đư ờng, khổ đường, đường phố, đường chính, cao tốc, giải phân cách, vạch kẻ đường, phương tiện GT thô sơ ĐB, xe quá tải) trả lời = ý 1
2. Các câu hỏi khái niệm( phương tiện GT cơ giới, đường ưu tiên, làn đường, dừng xe, đỗ xe. hàng nguy hiểm) ==> Trả lời = ý 2. (khái niệm đường bộ=ý1+ý2)

II/ Những câu hỏi về nghiệp vụ vận tải:

1.Câu hỏi về hoạt động vận tải ĐB, vận tải đa phương thức ==> Trả lời= ý 2.
2.Câu hỏi về vận chuyển = ý 1, vận tải = ý 2.
3.Câu hỏi về qui định giấy phép lái xe ( FE = ý 1, FC = ý 2).
4.Qui định giờ làm việc của lái xe = ý 2.
5.Tuổi tối đa của lái xe trên 30 chỗ = ý 1.
6.Niên hạn sử dụng xe( Xe khách = ý 2, xe tải = ý3)
7.Xe qua tải, quá khổ (xin cơ quan quản lý giao thông cấp )
8.Cắm biển = ( UBND Tỉnh).
9.Nồng độ cồn cho phép người điều khiển (mô tô = ý 1 ; ô tô = ý 2)
10.Người KDVT khách (câu 155) và hành khách (câu 158) có nghĩa vụ = ý 1 + ý 3.
11.Người KDVT khách có quyền = ý 2 + ý 3; hành khách (câu 157) có các quyền = ý 1
12.Người KDVT hàng hóa; người thuê VTHH có các nghĩa vụ = ý 1 + ý 2.
13.Người thuê VTHH có quyền hạn = ý 1; người KDVT có quyền = ý1+y3
14.Người nhận hàng có các quyền, có các nghĩa vụ = ý 1 + ý 2.

III/ Câu hỏi về kỹ thuật lái xe ô tô:

1.Câu hỏi ngu ời điều khiển giao thông ra hiệu lệnh (Giang tay trả lời = ý 1, giơ tay = ý 2).
2.Dừng xe (dốc xuống = ý 1, dốc lên = ý 2).
3.Rẽ trái = ý 1, rẽ phải = ý 2.
4.Tăng số = ý 1, giảm số = ý 2).
5.Vào cao tốc = ý 1 + ý 3; Ra cao tốc = ý 1.
6.Các câu có từ đầu (khi đỗ xe sát lề đường bên phải:khi lái xe ô tô qua đường sắt:khi ĐK xe số tự động; khi động cơ xe ô tô đã khởi động;khi đèn pha của xe ô tô đi ngược chiều;khi lái xe ô tô trên đường nhiều ổ gà; khi xuống dốc muốn dừng xe ô tô ; khi quay đầu xe: khi vào số tiến hoặc lùi xe số tự động ) = ý1
Khi ô tô có hộp số tự động;khi ĐK trên đường trơn: khi ĐK xe lên dốc cao:khi lái xe ô tô xuống dốc cao:khi khởi hành trên đường bằng:khi nhả phanh tay = ý2

IV/ Câu hỏi về kỹ thuật xe ô tô:

1.Kính, còi = ý 1, phanh tay = ý 2).
2.Bảo dưỡng thường xuyên xe ô tô = ý 1+ý2
3.Động cơ 2 kỳ = ý 1, 4 kỳ = ý 2.
4.( Động cơ, truyền lực, hệ thống phanh, dây an toàn) = ý 1.
5.Ly hợp = ý 2. (Hộp số, hệ thống lái) = ý 3
6.Động cơ diezel không nổ( không có tia lửa điện) = ý 1.

V/ Tốc độ tối đa cho phép:

1.Câu có xe ba gác tốc độ = 30km/h.
2.Trong khu vực đông dân c ư:
Xe đến 30 chỗ tốc độ = 50km/h.
Xe trên 30 chỗ, xe mô tô, xe gắn máy tốc độ = 40km/h.

3.Ngoài khu vực đông dân cư:
Xe đến 30 chỗ tốc độ = 80km/h.
Xe trên 30 chỗ tốc độ = 70km/h.
Xe buýt............ Mô tô = 60km/h.
Ôtô kéo rơ moóc.....Gắn máy = 50km/h.
4.Khoảng cách an toàn: Lấy tốc độ cao nhất trừ đi 30.sẽ ra khoảng cách

VI/ Biển báo giao thông đường bộ: Gồm 6 nhóm sau.

1.Biển báo cấm: Hình tròn viền đỏ ==>chỉ các điều cấm.
Chú ý:
- Biển cấm bóp còi = ý 2.
- Biển cấm rẽ trái, cấm cả quay đầu.
- Biển cấm quay đầu được rẽ trái.
2.Biển báo nguy hiểm: Hình tam giác màu vàng báo hiệu,cảnh báo nguy hiểm.
3.Biển hiệu lệnh
- Hình tròn màu xanh ==> hiệu lệnh phải thi hành.
Chú ý: Biển chữ T luôn đặt sau ngã 3, ngã 4. (câu hỏi 1dòng = ý 1, 2 dòng = ý 3)
4.Biển chỉ dẫn: Hình vuông hoặc hình chữ nhật màu xanh ==> để hướng dẫn
Chú ý: Biển báo chỗ quay đầu xe ==> không được rẽ trái
5.Biển phụ : Được đặt kết hợp với biển chính (để thuyet minh cụ thể)
6.Biển báo hiệu trên các tuyến đường đối ngoại.

VII/ Phương pháp giải sa hình: Tiên -> Đường -> Quyền -> Hướng

1.Ưu tiên :
- Xe cứu hoả -> Xe QS, Xe CA -> Xe cứu thương ->Xe Hộ đê -> Xe CS
2.Xe trên đường ưu tiên được đi trư ớc:
3.Không có xe ưu tiên, không có đường ưu tiên:
- Bên phải không vướng được đi trước
4.Không có xe ưu tiên, không có đường ưu tiên, không có quyền bên phải:
- Xét theo hư ớng xe: rẽ phải -> đi thẳng -> rẽ trái
5.Hình vòng xuyến: nhường đường cho xe đi bên trái
Chú ý :
- Hình nhiều làn đường đi thẳng (1 xe con = ý 1: 3 + 4 xe con = ý 3 )
- Hình có đèn(xanh,đỏ phân 3 làn)==>hình vẽ hướng 4 xe ô tô=ý1: 3xe &5 xe ô tô=ý2 (hình 2 xe mô tô=ý3)
- Hình ko vẽ hướng đi=ý3
- Hình có công an đứng giữa =ý3

VIII/ Những câu hỏi có những ý sau:

1.10 câu về phẩm chất, đạo đức, người lái xe: = trả lời cả 2 ý
(trừ các câu về hành vi văn hóa GT)
2.Các hành vi:(sai trái đều bị cấm.)
- Kính, còi = ý 1, phanh tay = ý2 ==> FE=ý1 , FC=ý2
- Tuổi tối đa=ý1:giờ làm việc=ý2 Tăng số=y1, giảm số=y2
- GPLX Hạng B2 = ý 2 , Hạng C = ý 3 Niên Hạn ( Khách = ý 2, Tải = ý 3 )
- Tay Giang = ý 1, Tay giơ = ý 2 Rẽ Trái = ý 1, Rẽ Phải = ý 2
- Được dừng, đỗ xe = ý 1 Khi dừng, đỗ xe = ý 2
- Dừng xe Dốc xuống = ý 1 Khi Lên dốc, xuống dốc cao= ý 2
- Khi quay đầu xe = ý 1 Khi khởi hành = ý 2
- Khi trên đường trơn = ý 2Khi trên đường ngập nước = ý 3
- Vận chuyển hàng nguy hiểm = ý 1Khái niệm hàng nguy hiểm = ý 2


_________________________________________________________

Tin tức khác

Sơn nước trong nhà
Đào tạo lái xe miễn phí cho bộ đội xuất ngũ
Thơ giúp thi đỗ 10 bài sa hình
Bổ túc tay lái
Giáo trình