Kênh thông tin tổng hợp

M

Hư Trúc người có nội lực bá đạo nhất TLBB

Hư Trúc xuất thân là một tiểu hòa thượng k cha k mẹ nhưng thực ra thân thế cũng thuộc hàng con ông cháu cha trong chùa Thiếu Lâm. Hư Trúc là con trai của Huyền Từ phương trượng và Diệp nhị nương trong tứ đại ác nhân. Hư Trúc bị cha của Tiêu Phong cướp đi từ nhỏ sau đó mang vào chùa gửi nhà sư nên k biết cha mẹ mình là ai, khi bị Ô lão Đại rủa tổ tông 18 đời, ông nội bà ngoại Hư Trúc lên thì Hư Trúc nói rằng: Ta lớn lên k biết cha mẹ là ai, nên nào có biết ông bà nội ngoại, tổ tông 18 đời là ai, Ô lão đại nghe thấy thì tức lắm, chửi độc thế mà nó ko thấy nhục. :))) Hư Trúc là một người nhân hậu, hiệp nghĩa, thật là, lương thiện tuy nhiên hắn có khuôn mặt xấu xí, khó coi cụ thể là: Mắt to, mũi lớn, tải vểnh, mồm rộng, trán dồ, mi đậm, tướng mạo rất cục súc. Không anh tuấn tiêu sái như Đoàn Dự cũng không khí khái anh hùng như Tiêu Phong.

Hư Trúc có duyên giải được thế cờ Chân Lung nhận được nội công 70 năm của Tiêu Dao Tử và nhận lời làm trưởng môn nhân của Tiêu Dao phái. Tính về vai vế thì Hư trúc là sư đệ của Tô Tinh Hà vs Đinh Xuân Thu. Sau đó Hư Trúc liên tục trúng số độc đắc và trúng luôn vietlot khi gặp được Thiên Sơn Đồng Lão dạy võ công và cuối cùng hấp thụ 90% 90 năm công lực của Thiên sơn đồng lão và Lý thu thủy. Tổng cộng Hư Trúc có trong người khoảng 200 năm nội công phái Tiêu Dao. Nhiều vãi cả đái luôn.

Võ Công

Võ công thiếu lâm: Võ công thiếu lâm của Hư trúc học được là 2 bộ La hán quyền và Vi đà chưởng, nội lực chẳng có bao nhiêu, khi Tiêu Dao Tử truyền công cho Hư trúc thì đã phế hết nội lực của thiếu lâm nên cuối cùng Hư trúc chỉ nhớ chiêu thức của 2 bộ võ công kia mà chẳng có chút nội công Thiếu Lâm nào.
Võ công Tiêu Dao
Hư Trúc được sư phụ mình là Tiêu Dao Tử truyền cho 70 năm công lực của Bắc Minh Thần công, lúc này mới chỉ có nội lực nên chưa bá đạo. Sau này gặp được Thiên Sơn Đồng Lão, cũng do tính tình thật thà trung hậu cứu giúp Đồng Lão nên Đồng Lão mới truyền thụ thêm Bắc Minh Thần Công, Thiên Sơn Chiết Mai thủ, Thiên Sơn Lục Dương Chưởng và Sinh tử phù. và còn 1 chút khinh công nhưng do nội lực mạnh mẽ nên hắn bay như điên vậy.
Thiên Sơn Đồng Lão và Lý Thuy Thủy oánh nhau đến khi gần chết 2 người dùng nội lực đấu với nhau qua người Hư Trúc nên Hư Trúc đã hấp thụ thêm được 90 năm công lực của Đồng Lão và khoảng 60 năm công lực của Lý Thu Thủy. Tổng cộng hơn 200 năm công lực phái Tiêu Dao nằm trong tay Hư Trúc. Trong đó có cả nội công Tiểu Vô Tướng Công của Lý Thu Thủy luyện. Do 3 người cùng một môn phái nên võ công tương ứng nhau nên Hư Trúc dễ dàng dung hòa 3 luồng nội công thành một.
Trong thời gian đi theo Đồng Lão Hư Trúc còn được xoạc công chúa xinh như hoa như ngọc của Tây Hạ 3 ngày 3 đêm. Ngon vãi nồi luôn!
Sau đó Hư Trúc được Đồng Lão truyền cho chức vị chủ nhân cung Linh Thứu nùi Phiêu Miểu. Sau khi về Linh Thứu cung Hư trúc giải sinh tử phù cho 36 động và 72 đảo nên được bọn họ kính phục và nguyện đi theo. Hư trúc kết hôn với Đoàn Dự...à nhầm, kết huynh đệ trở thành 3 anh em khác cha khác ông nội khác luôn ông ngoại với Tiêu Phong và Đoàn Dự.
Trong thời gian ở Linh Thứu cung Hư trúc tiếp tục luyện võ công trên cách đá trong động mấy tháng trời và trở về Thiếu Lâm. Lúc này võ công của Hư Trúc đã đạt tời cảnh giới xuất thần nhập hóa, đăng phong tạo cực... Hư Trúc về Thiếu Lâm oánh nhau với Khưu Ma Trí giải cứu Thiếu Lâm sau đó lại oánh nhau với Đinh Xuân Thu và hạ gục hắn bằng Sinh tử phù.
Hư trúc đối đáp có phần ngu ngu, đầu óc chậm chạp nhưng lại có trí nhớ tuyệt vời. Đối với võ công cũng k hề chậm chạp như đầu óc của Hư trúc. Cụ thể là khi Tô Tinh Hà dạy Hhư Trúc cách giải độc băng tằm cho những người trúng phải, chỉ trong vòng 1 bữa cơm Hư Trúc đã nhớ kỹ cách giải cho từng người một, mỗi người giải 1 cách khác nhau. Tô Tinh Hà nhận xét rằng Hư trúc có trí nhớ rất tốt. Khi Thiên Sơn Đồng Mỗ dạy khẩu quyết của Thiên Sơn Chiết Mai Thủ rất là khó nhớ, khó đọc nhưng chỉ qua 3 lần Hư Trúc có thể đọc như cháo chảy cả ngược lẫn xuôi. Khi Đồng Mỗ dạy Thiên Sơn Lục Dương Chưởng Hư Trúc học mấy ngày là thuần thục, Đồng Mỗ cũng khen ngợi rằng Hư Trúc đâu có ngu, học như thế là nhanh lắm.
Những võ công thượng thừa của Tiêu Dao chỉ người có nội công thâm hâu mới học được, người nội công kém học là thiếu chân khí dẫn đến tiêu tán nội lực, nhẹ thì trở thành phế nhân nặng thì bỏ mạng. Hư Trúc học được võ công thượng thừa thật là nhanh cũng nhờ nội lực hùng hậu mà Tiêu Dao Tử truyền cho.
Xét thấy nhân vật này giống như Trương Vô Kỵ vậy. Nhờ có nội công của Cửu Dương chân kinh mà học thêm được Càn khôn đại na di thật dễ dàng. Nhưng tư chất của Trương Vô Kỵ nhỉnh hơn 1 bậc nhưng nội công thì chưa chắc đã bằng Hư Trúc được.
Mình biết thế nào các bạn cũng so sánh các nhân vật với nhau nên mình cũng so sánh luôn, và đây là ý kiến chủ quan của mình, bạn nào đồng tình hay ko thì nên đưa ý kiến bằng cách comment và thật là lịch sự nhé.
Xét về nội lực thì Hư Trúc bá đạo nhất trong phim rồi, các chiêu thức mới học cũng đã thuần thục chỉ thiếu kinh nghiệm lâm trận thôi nên nếu solo với  người từng trải như Tiêu Phong thì Hư Trúc sẽ thua và solo với Đoàn Dự thì sẽ win chặt vì Lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự lúc nổ lúc xịt. Sau này nếu luyện tiếp thì Hư Trúc vẫn bá hơn Đoàn Dự vì nội công của Hư Trúc và Đoàn Dự cùng là Bắc Minh Thần công nhưng của Hư Trúc nhiều hơn hẳn, tuy lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự bá đạo đấy nhưng Hư Trúc lại có Sinh Tử Phù, cái này bá ko kém đâu. Còn nếu có bạn nào nói rằng Đoàn Dự hút công lực của Hư Trúc thì khó lắm nhé vì

Đoàn Dự đã hay lại còn hên

Đoàn Dự xuất thân hoàng tộc, là con trai duy nhất của Đoàn Chính Thuần, vương từ nước Đại Lý. Bác là Đoàn Chính Minh, hoàng đế Đại Lý nhưng lại ko có con nên Đoàn Dự tương lai sẽ là vua Đại Lý. Đấy là trên lý thuyết còn thực tế Đoàn Dự lại là con của Đoàn Diên Khánh, đệ nhất ác nhân.
Sau này Đoàn Dự kết nghĩa với Tiêu Phong và Hư trúc tạo nên bộ 3 quái vật trong truyện.
Đoàn Dự là người khôi ngô, nho nhã, tính tình cởi mở dễ gần. Chàng thích đọc sách, tinh thông kinh dịch, phật pháp, trồng hoa và thích đánh cờ. Đặc biệt chàng ghét học võ nên mới trốn gia đình gia ngoài giang hồ chơi. Thời bây giờ người ta gọi là Tam mao hoặc là đi bụi. Nhưng do duyên trời định chàng lại học được 3 bộ võ công độc nhất thiên hạ đó là: Đệ nhất khinh công Lăng ba vi bộ: Đệ nhất nội công: Bắc Minh thần công và Đệ nhất kiếm khí: Lục Mạch thần kiếm. vâng cái éo j cũng là đệ nhất. Sinh ra là con trưởng duy nhất trong dòng họ đệ nhất, 4 tuổi tinh thông cầm kỳ thi họa, 6 tuổi học võ, 1 năm sau thì vượt thầy. Đao hơn đao hoàng, kiếm hơn kiếm hoàng, người ta gọi ông là đệ nhất... ý lộn sang Phong Vân rồi sr quý dzị nha. hihi.

Trong bụng thì có một con cóc độc vô cùng nên miễn nhiễm các loại độc. Bất cmn khả chiến bại luôn.
Đoàn Dự tuy học được những võ công đệ nhất nhưng chàng lại lười luyện ham chơi nên ko phát huy nhiều tác dụng. Duy chỉ có lăng ba vi bộ là giúp chạy trốn tốt cho là hữu dụng nên được chàng luyện thuần thục nhất. Bắc minh thần công mới chỉ luyện được 1 huyệt đạo chỗ ngón tay cái nên chỉ hút được nội từ ngón tay cái thôi. Mới học đến thế mà nội lực đã khủng khiếp rồi đó. Lục mạch thần kiếm thì lúc nổ lúc xịt cho nên khi hành tẩu giang hồ cũng ko ăn thua cho lắm.

Võ công

Lăng ba vi bộ: Lăng ba vi bộ là một loại bộ pháp được sáng tạo dựa trên kinh dịch bát quái. Bát quái bắt đầu từ lưỡng cực sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái... tức là 2 thành 4, 4 thành 8, 8 lại thành 16... càng đi càng nhiều càng biến hóa càng nhiều cho nên là rất khó nắm bắt. Trước khi học lăng 3 thì người luyện phải biết kinh dịch. Đoàn Dự do biết Kinh Dịch trước rồi nên học rất nhanh áp dụng rất tốt. Lăng ba vi bộ có một nét đặc biệt trong các loại võ công khác đó là càng đi thì càng tích tụ nội lực, càng chạy nội lực càng tăng. Trong cuốn bí kíp có viết: Nếu gặp kẻ địch mạnh thì dùng bộ pháp này chạy trốn, sau khi tích tụ đủ nội lực thì quay lại chiến. Khi Đoàn Dự chạy thi khinh công với Tiêu Phong lúc đầu gặp nhau Tiêu Phong có nhận định rằng: Khinh công của thanh niên này quả nhiên lợi hại, coi bộ pháp di chuyển ung dung, nhẹ nhàng cứ như là đi dạo. lúc đầu thì theo không kịp ta nhưng sau vài chục dặm thì đuổi kịp ta, vài trăm dặm thì ta sẽ thua mất. Cho nên nói Lăng 3 vi bộ là khinh công đệ nhất thiên hạ quả không ngoa.
Bắc Minh thần công
Cùng với cuốn Lăng ba vi bộ là cuốn Bắc minh thần công cũng được Đoàn Dự nhặt được trong sơn động.
Bắc Minh thần công là võ công nên Đoàn Dự ko thích học, với lại do cuốn sách toàn tranh ảnh đồi trụy nên Đoàn dự chỉ đọc 1 lần rồi cất đi chứ không học sâu. Cuồn này gặp cụ Tokuda thì xong cmnr, bá đạo trên từng hạt gạo.
Ngoài ra Bắc minh thần công còn được Thiên Sơn Đồng Mỗ dạy cho Hư Trúc dùng để ném quả thông vào bọn 36 động 72 đảo, vậy nên môn võ công này k chỉ hút nội công của người khác mà còn có chỗ tinh diệu riêng.
Lục mạch thần kiếm.
Đoàn dự rất may mắn ở chỗ là học Bắc Minh thần công xong có rất nhiều người để cho chàng hút nội lực. Ban đầu nội lực ít chàng hút của mấy tên cùi bắp phái Vô Lượng, sau đó nhiều dần thì chàng hút được của mấy tên đệ tử cấp cao hơn. Lúc đó nội lực cũng đã nhiều thì chàng lại hút được nội lực của tam đại ác nhân (k có đệ nhất) cùng với nội công của Chung Vạn Cừu, đại sư Không Kiến và của Ba Thiên Thạch. Lúc này nội lực của Đoàn Dự hùng hậu vô cùng. Nhưng chàng vẫn chưa biết cách biến hóa thành của mình nên là nội lực xung đột lẫn nhau tý thì mất mạng. Gia đình thấy thế bèn mang lên chùa Thiên Long cho các cao tăng Đại Lý chữa trị. Đây cũng là cơ may để học được Lục mạch thần kiếm.
Lục mạch thần kiếm là võ công bá đạo của Đại Lý nhưng từ xưa tới nay không có người luyện được vì không đủ nội lực tu luyện.


Đoàn Dự do hút được nhiều nội lực của nhiều người nên mới đủ nội lực để luyện tất cả 6 mạch nhưng nguyên nhân do nội lực vẫn chưa đủ, một phần do lười luyện nên lúc nổ lúc xịt. Khi giao đấu với Mộ Dung Phục, Tiêu Phong có chỉ điểm là dùng 1 loại kiếm khí thôi. Lục mạch thần kiếm có 6 mạch, lúc này dùng 1 mạch chẳng khác nào nhất dương chỉ cho nên không thể áp đảo Mộ Dung Phục, nhưng kiếm khí vỗ cùng bá đạo khiến binh khí của Mộ Dung Phục từ kiếm, đao đều gãy nát. Cuối cùng hắn dùng bút và tí nữa thì hạ được Đoàn Dự nhưng do Tiêu Phong cứu giúp nên Đoàn Dự đã lật được tình thế. Trong phim nó khác nha các bạn, đừng có mang phim ra so sánh với nguyên tác là truyện.
Cuối bộ phim Đoàn Dự lấy được người đẹp là Vương Ngữ Yên, truyện cũ viết là lấy Mục Uyển Thanh nhưng bản chỉnh sửa mới nhất là lấy Vương Ngữ Yên và lên làm hoàng đế nước Đại Lý. (Nhất Đăng đại sư là cháu nội của Đoàn Dự và Mục cô nương) Sau này Đại Lý cùng nhà Tống bị quân Nguyên Mông chiếm được sát nhập với nhau trở thành Đại Nguyên. Sau 100 năm đô hộ, quân Nguyên bị đánh trở về Mông Cổ, nhà Minh thống nhất giang sơn. Đại Lý ko còn tên trên bản đồ và tới ngày nay ta gọi chung là Tàu.

Tóm cái váy lại: 

Đoàn Dự cũng là người thông minh, tài trí nhưng xét về võ công thì chỉ là may mắn mà thôi chứ ko phải kỳ tài đích thực. May mắn học được Lăng ba vi bộ, do tinh thông kinh dịch từ trước nên học được dễ dàng. Cũng như Khưu Ma Trí do tinh thông tiếng Phạn và học phật nên mới học được cuốn dịch cân kinh, Tiêu Phong thì k hiểu gì. Học Lăng ba vi bộ trước nên mới tích được ít nội công mới có thể hút được nội công của thằng đưa cơm, sau đó hút được của 7 8 thằng làng nhàng rồi hút tiếp 5 thằng cao hơn. Nói chung cũng hên vì nếu gặp 5 thằng đệ tử cấp cao kia trước thì sml ngay. Sau đó mới đủ để hút đc nội công của Chung Vạn Cừu tiếp đó do mấy ông ác nhân kia bám vào nhau nên nội lực cứ thế đổ vào Đoàn Dự. Đến lúc này thì nội lực của Đoàn Dự rất mạnh rồi nhưng chiêu số và thực chiến thì không có nhiều nên khi solo với những cao thủ khác thì cũng không ăn được ai. Đánh được Mộ Dung Phục là nhờ Tiêu Phong giúp đỡ khá nhiều nên không thể so sánh với Tiêu Phong được. Sau này Đoàn Dự cũng không thể đánh được Tiêu Phong. Vì sao thì các bạn đọc rõ phần Tiêu Phong sẽ hiểuV

Tứ đại ác nhân

Tứ đại ác nhân được mệnh danh là những người ác nhất Thiên long bát bộ, mỗi người có một sở thích riêng và cùng với đó những cái ác riêng. Sau đây là chi tiết từng người và từng nét rất riêng của họ.

Đệ tứ: Cùng hung cực ác - Vân Trung Hạc

Vân trung hạc nghĩa là hạc trên mây, nghe tên đã thấy bay bay phiêu phiêu rồi. Vân trung Hạc là người cao nhưng gày còm. Hắn có biệt tài là khinh công, khinh công của hắn rất cao cường nhưng võ công thì cũng tầm tầm. Có thể nói là đi mây về gió, chạy nhanh hơn cả ngựa. Hắn có cái vũ khí là cái gậy sắt đầu có bàn tay người, hắn chuyên dùng cái đó để bóp vếu các chị em. Hắn ta có sở thích là phụ nữ. Chỉ cần là girlxinh là hắn ta mê rồi, k cần phân biệt già trẻ j hết. Tuy khinh công của hắn cao vậy nhưng vẫn không chạy thoát nổi chưởng phong của Tiêu Phong trong vụ Tụ Hiền Trang. Khinh công của hắn tuy là bá đạo nhưng k phải đệ nhất vì khi tỷ thí khinh công với Chu Đan Thần, bề tôi của Đoàn Chính Thuần hai người đã huề nhau. Còn nếu so với Tiêu Phong thì ko biết nữa nhưng mà đoạn Tiêu Phong chạy đuổi theo nhà sư quét rác trong chùa Thiếu Lâm thì chạy nhanh đến nỗi xé gió cắt rát cả mặt như giao cắt. Như miêu tả thì trong truyện chưa có ai chạy nhanh như vậy, chỉ có nhà sư quét rác chạy trước và Tiêu Phong chạy sau mà gió tạt như thế  thì ông sư kia chắc phải bá đạo lắm. Theo như kinh nghiệm đi xe máy của tôi thì đi với 90-100km/h ko đội mũ fullface thì cũng gió xé rát mặt như vậy đấy :D
Vân Trung Hạc cuối cùng chế dưới lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự khi đang cố hấp diêm Vương Ngữ Yên.

Đệ Tam: Hung thần ác sát - Nam hải ngạc thần - Ngạc lão tam

Nam hải ngạc thần tức là thần cá sấu ở biển Nam, chắc là từ đảo Hải Nam lên. Hắn ta có thân hình bé nhỏ với mái tóc đỏ (chi tiết này giống Shanks nè, tóc đỏ từ biển lên). Hắn có mấy cái ria mép trông đểu đểu và đầu óc hơi có vấn đề. Ngạc lão tam luôn mốn làm lão nhị nên khi ai gọi hắn là lão nhị thì hắn sướng lắm. Hắn tuy là ác nhân nhưng rất có phong cách. Hắn nói lời và giữ lời, luôn tuân theo quy củ của bản thân đặt ra và vì thế luôn bị Đoàn Dự bắt bẻ. Sau 1 lần tỷ thí đã ko đánh trúng Đoàn Dự nên đã miễn cưỡng nhận Đoàn Dự là sư phụ. Tuy là miễn cưỡng nhận làm sư phụ nhưng hắn vẫn nghe lời sư phụ hắn, đặc biệt là đến cuối đời vì muốn bảo vệ sư phụ nên bị giết chết.
Mình rất thích tên này tuy là ác nhân nhưng hắn có phong cách của hắn: Đó là ko thích làm quân tiểu nhân, quên đê tiện, con rùa rút đầu. Hắn không giết người k có sức phản kháng, luôn phân biệt trước sau, thứ tự cao thấp. Ở Nam hải hắn được người ta gọi là ông tổ nhưng đến trung nguyên thì chỉ làm đệ tử của Đoàn Dự và xếp sau Đoàn Chính Thuần 2 bậc. Vì vấn đề này mà hắn luôn muốn cắt đầu Đoàn Chính Thuần. Sở thích của hắn là bẻ cổ đối thủ kêu rắc 1 cái thế là xong. Nghe tiếng bẻ cổ mới đã tai làm sao. Hắn có cái kéo hình răng cá sấu rất to chuyên đi cắt đầu người. Đến cuối đời hắn bị chết dưới tay lão đại vì ko tuần lệnh muốn bảo vệ sư phụ của hắn. Hắn tuy là ác nhưng là một con người rất thú vị.

Đệ Nhị: Vô ác bất xá - Diệp Nhị Nương

Diệp nhị nương là người đàn bà duy nhất trong tứ đại ác nhân, bà ta là người tình của phương trượng Huyền từ và là mẹ của Hư Trúc. Bà ta bị Tiêu viễn Sơn tức cha của Tiêu Phong cướp con từ thuở nhỏ và gửi vào trong chùa làm hòa thượng. Vì quá mong nhớ đứa con của mình nên bà ta chuyên đi bắt trẻ nhỏ chơi chán rồi giết chết. Bà ta có võ công cũng tầm tầm, cao hơn Lão tam 1 chút nhưng so với các đại cao thủ thì vẫn kém xa. Bà ta có kết cục là tự sát nhưng trước khi chết vẫn nhận lại được chồng và con mình, cũng là niềm an ủi cho bà ta. Theo y học ngày nay thì bà ta bị chứng tự kỷ sau sinh nên mới đi bắt con của người khác như vậy, vì thế ngoài đáng trách thì bà ta cũng đáng thương.

Đệ Nhất: Ác quán mãn doanh - Đoàn Diên Khánh

Đoàn Diên Khánh từng là Thái tử nước Đại Lý, là cha ruột của Đoàn Dự và tất nhiên để làm cha Đoàn Dự thì ông ta cũng đã từng xoạc mẹ của Đoàn Dự. Một người có nhan sắc như quan âm giáng trần. Thật là toẹt vời cho một kẻ như hắn. Sau một biến cố trong hoàng cung mà hắn bị thương nặng và trở thành phế nhân. Hắn k cử động được cơ mặt nên hắn không ăn và nói bình thường được. Kinh mạch của hắn cũng ko đều lúc đập lúc ko cứ như quái nhân vậy. Hai chân bị phế nhưng còn 2 tay vẫn cầm gậy oánh nhau tốt. Khi Mục Uyển Thanh hỏi ông ăn làm sao? hắn cho lương khô vào miêng, dùng tay ấn ấn như Châu Tinh Trì rồi nuốt luôn. Mục Uyển Thanh thấy thế lấy làm thương hại cho hắn. Đoàn Diên Khánh là người có võ công cao nhất trong tứ đại ác nhân, võ công của hắn thuộc bậc cao cấp trong Thiên Long Bát Bộ. Chỉ có 1 vài người top đầu  mới có thể solo được với hắn. Tiêu Phong nhận xét hắn rằng: người này sử dụng chiếc gậy nhỏ mà cứ như thiết trượng cả trăm cân, nội lực quả ko tầm thường. Trong một lần solo với Tiêu Phong tuy hắn bại trận nhưng ko ảnh hưởng gì nhiều. Hắn tinh thông nhất dương chỉ, kiếm pháp Đoàn thị hơn cả Đoàn Chính Thuần và Đoàn Chính Minh, thuật đánh cờ của hắn cũng rất cao. Hắn ta là một người chí dũng song toàn, cả đời chỉ muốn cướp lại ngôi vua của nước Đại Lý. Sau này hắn nhận Mộ Dung Phục làm con nuôi, bức tử Đoàn Chính Thuần cùng các tỳ thiếp. Nhưng vì vụ đó nên hắn mới nhận được đứa con ruột của mình là Đoàn Dự. Hắn có 1 đứa đệ tử vì đắc tội với Tiêu Phong mà ăn hành sml. Cái tội xialin nó vậy ấy mà, giám chửi đệ nhất thiên hạ cơ :)))
Đến cuối truyện thì chỉ có Đoàn Diên Khánh sống sót và quy ẩn giang hồ khi mà mục tiêu trong đời của hắn đã đạt được đó là con trai hắn làm Hoàng Đế. Còn 3 tên đực rựa tựa vào vai nhau sống qua những ngày cuối đời.

Đinh Xuân Thu

Đinh Xuân Thu là một kẻ đại gian đại ác, ko từ thủ đoạn để đạt được mục đích. Khi sư diệt tổ khi đã ám sát sư phụ là Tiêu Dao Tử nhưng ko chết. Đinh Xuân Thu còn sẵn sàng dùng các đệ tử làm tốt thí mạng khi tỷ thí võ công với các cao thủ khác. Đinh Xuân thu hiểm ác là thế, độc địa là thế nhưng hắn lại là một trong những kẻ đẹp trai nhất trong Thiên Long Bát Bộ.

Đinh Xuân Thu được miêu tả như sau: Hồng nhan hạc phát, râu tóc bạc phơ, ống tay áo rộng phất phới, tay cầm chiếc quạt lông ngỗng; bộ pháp nhẹ nhàng uyển chuyển ung dung tiêu xái cứ như thần tiên hạ phàm, người khác mới nhìn trong lòng thấy kính mến. Đinh Xuân Thu giỏi nhất dùng độc, võ công của ông ta có môn Hóa công đại pháp rất lợi hại.

Hóa công đại pháp

Hóa công đại pháp không giống như Hấp tinh đại pháp và Bắc minh thần công. Bắc minh thần công và Hấp tinh đại pháp là dùng tay hoặc thông qua vật dẫn như cơ thể người, binh khí để hút nội lực của đối phương. Còn Hóa công đại pháp là dùng độc chưởng làm tiêu tan nội lực của đối phương. Những người bị trúng độc chưởng này nội lực sẽ bị tiêu tan, phần lớn là chết thảm nên rất ít người biết rõ về môn này và chỉ nghe giang hồ đồn đại thôi. Nên khi Đoàn Dự dùng Bắc minh thần công thì lại tưởng đó là Hóa công đại pháp của Đinh Xuân Thu.
Ngoài ra Đinh Xuân Thu còn nhiều độc chưởng khác như Tiêu Dao Tiếu Tam Tiếu, trúng độc cười 3 phát là chết rất là lợi hại.
Đinh Xuân Thu là đệ tử thứ 2 của Tiêu Dao Tử, là sư đệ của Tô Tinh Hà. Lúc ban đầu hai người võ công không phân cao thấp nhưng sau đó Tô Tinh Hà đam mê tạp kỹ (cầm kỳ thi họa, y, tướng...) nên võ công thụt lùi còn Đinh Xuân Thu chỉ ham mê võ học nên võ công thăng tiến. Nhưng do Đinh Xuân Thu tâm địa bất chính nên sư phụ ông ta không muốn truyền chức vị trưởng môn nên ông ta âm thầm hãm hại đánh bay xuống vách đá. Do thần công cái thế Tiêu Dao Tử may mắn không chết, sau này không biết lý do gì mà ko tìm Đinh Xuân Thu báo thù. Chắc do gãy chân què tay k còn mạnh như xưa chỉ còn nội lực 70 năm tu luyện. Sau truyền cho Hư Trúc và trở thành đại cao thủ.
Sau khi hại sư phụ, Đinh Xuân Thu về biển Nam hải thành lập môn phái Tinh Túc. Môn phái này có quy củ là ai mạnh thì làm trưởng môn, yếu hơn làm đại sư huynh, yếu hơn thì làm nhị, tam sư huynh. Được cái bọn đệ tử phái Tinh Túc thì toàn bợ đỡ, nịnh hót ko có thực lực, chỉ mấy thằng sư huynh cầm đầu còn mạnh 1 chút nhưng chủ yếu vẫn là độc công. Có tên đại sư huynh được Tiêu Phong khen ngợi về khinh công rằng đi mây về gió ko có tiếng động nhưng trên giang hồ vẫn đứng sau Vân Trung Hạc và ... cái ông đi theo Đoàn Chính Thuần, thế cũng đủ hãnh diện lắm rồi. hehehe.
Đinh Xuân Thu sau này thu nhận được Du Thản Chi, người vô tình học được Dịch cân kinh có được nội lực hùng hậu nhưng võ công thì mèo cào nên vẫn chỉ là cao thủ thôi chứ ko sánh được với các bậc đại cao thủ.
Đinh Xuân Thu sau này trên núi Thiếu Thất oánh nhau với Hư trúc và bị Hư trúc thu phục bằng Sinh tử phù. Ông ta cuối cùng ko chết nhưng chắc cũng cải tà quy chánh đi theo Hư Trúc. Hưởng thọ 88 tuổi (chém đấy chứ bao nhiêu tuổi thì k biết đâu)
 Túm lại: Đinh Xuân Thu tuy tà ác nhưng là một đại mỹ nam. Tướng mạo Hồng nhan hạc phát, phong thái ung dung như tiên hạ phàm. Cuối cùng cũng cải tà quy chánh trở thành thần tiên thực sự. hehehe. Vậy nên các cụ có câu Nhìn mặt bắt hình dong là như vậy.

Tiêu Phong

Tiêu Phong hay Kiều Phong, là nhân vật chính trong tiểu thuyết kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ do nhà văn Kim Dung sáng tác. Tiêu Phong tên thật là Nguyễn Kiều Phong (đùa thôi). Hihi. Sống thời Bắc Tống còn Quách Tỉnh với Dương Qúa sống thời Nam Tống. Tiêu Phong là một trong những đại anh hùng xuất chúng nhất trong tiểu thuyết Kim Dung. Tiêu Phong được Kim Dung đặt cho danh hiệu Võ Thần. Nghe cái tên đã biết khủng rồi. 
Tiêu Phong có tư chất thiên phú về võ học: "Đọc là hiểu, hiểu là tinh thông. Khi lâm trận thì biến hóa càng kỳ ảo, gặp đối thủ mạnh thì càng mạnh. Môn võ công nào vào tay ông cũng đều phát huy sức mạnh đến cực đại mà trước đó tới giờ chưa ai làm được. Mà sau này cũng chả ai sánh được."

Cha và mẹ đẻ Tiêu Phong là người Khiết Đan. Cha tên Tiêu Viễn Sơn, khi xưa cùng vợ và con nhỏ vào Trung Nguyên để thăm người thân, nhưng lại bị các cao thủ đứng đầu Trung Nguyên vây đánh ở Nhạn Môn Quan khiến mẹ của Tiêu Phong chết. Cha Tiêu Phong tự tử nhưng ko chết, ẩn dật trong Thiếu Lâm 30 năm cuối cùng tu luôn ở Thiếu Lâm. Tiêu Phong được gửi cho 1 đôi phu phụ họ Kiều nuôi nấng và được nhà sư Huyền Khổ dạy võ công. Khả năng cao cũng biết nội công thiếu lâm + La hán quyền và Vi đà chưởng do môn này là 2 môn võ sơ cấp nhập môn của Thiếu Lâm. 2 môn này cũng là 2 môn võ Thiếu Lâm duy nhất của Hư Trúc. Sau này kết nghĩa với Đoàn Dự và Hư Trúc. Ông tự sát ở Nhạn Môn Quan. Ông có kết cục bi thảm nhất trong các nhân vật chính của Kim Dung. Chính Kim Dung cũng đã nói rằng: Ta đã quá bất công với Tiêu Phong.

Tiêu Phong là người cao lớn, hào sảng, tràn đầy khí khái anh hùng. Ông lại rất nhân hậu khi lúc nào cũng nghĩ tới bá tánh trăm dân. Ông uống rượu như voi uống philatop, càng uống càng tỉnh. Tiêu Phong từ nhỏ ko biết thân thế của mình, lớn lên ông nhập Cái Bang, lập nhiều công trạng, được mọi ng tôn kính nên chẳng bao lâu ông đã làm Bang chủ Cái Bang. Sau đó ông bị kẻ gian hãm hại, mà chủ mưu thực sự lại là vợ của Mã Phó bang chủ. Ông thân bại danh liệt, bị trục xuất khỏi Cái Bang và bị người trên giang hồ truy sát. Sau đó ông đã có cuộc chiến lưu danh sử sách tại Tụ hiền trang với 1 mình chống lại cả võ lâm. 
Trong sự kiện Tuh Hiền Trang ông dùng Thái Tổ Trường Quyền, là môn võ công cả thế giới ai cũng biết để đánh bại võ công Thiếu Lâm. Nhìn thấy như thế thì ko ai ko kinh ngạch và thán phuc Tiêu Phong.  Nhưng trong trận Tụ Hiền Trang này thì Bắc Tiêu Phong cũng sức tàn lực kiệt đành buông tay chịu chết nhưng ai ngờ được cha mình là Tiêu Viễn Sơn cứu sống. Tiêu Viễn Sơn lúc đầu tát TP được 1 cái do Tiêu Phong nghĩ là ân nhân nên ko oánh trả nhưng lúc sau muốn tát cái thứ 2 thì ko thể được. Lúc này Tiêu Phong đang bị thương nặng làm cho Tiêu Viễn Sơn vô cùng kinh ngạc và kêu lên. Ngươi luyện được thần công cái thế nhưng sao lại chịu chết nơi này? Điều này cho thấy TP mạnh ngang ngửa, có khi còn nhìn hơn cả Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác.

Sau vụ THT ông yêu A Châu, tưởng chừng như  tìm được ánh sáng của cuộc đời nhưng không, Kim Dung lại lấy đi tất cả, k những thế Kim Dung lại còn bắt ông tự tay giết chết người mình yêu thương. Ông ko báo dc thù, người yêu trc khi chết ko cho ông tự tận, ông ko biết làm j bèn đi về phương Bắc tìm lại cội nguồn là người Khiết Đan cùng với A Tử, em của người yêu cũ. Về Khiết Đan ông kết huynh đệ với Hoàng đế, giúp ông ta lấy lại được giang sơn từ cuộc đảo chính. Ông giữ chức Nam Viện Đại Vương. Sau khi A Tử bỏ trốn về Trung Nguyên chơi ông lại lặn lội đến cứu. Ông lại có trận đấu kinh điển 1 vs 3 là Đinh Xuân Thu, Mộ Dung Phục, và Du Thản Chi. Sau đó Hư Trúc giúp ông đánh Đinh Xuân Thu chỉ còn Tiêu Phong vs Mộ Dung Phục + Du Thản Chi. Lúc đầu Tiêu Phong áp đảo do nội lực hùng hậu và sự bá đạo của Hàng Long Thập Bát Chưởng nhưng sau thì đuối dần nếu oánh 100 hiệp nữa thì sẽ bại do Hàng Long Thập Bát Chưởng rất ngốn mana. 

Nói qua về Du Thản Chi và Mộ Dung Phục cũng đều là những võ lâm trác tuyệt. Du Thản Chi luyện dịch cân kinh + ăn băng tằm nội lực đã = người luyện võ 40 năm. Băng tằm lại là chí hàn nên rất bá đạo. Có thể so sánh với Tả Lãnh Thiền cùng môn Hàn Băng Chân Khí. Mộ Dung Phục cũng là võ lâm xuất chúng với môn Đẩu Chuyển Tinh Di. Trong phìm thì nhìn cùi cùi nhưng thực ra Mộ Dung Phục rất bá đạo. Hắn ta đã được Đồng Mỗ khen ngợi: "Ta lâu ko ra ngoài k ngờ võ công thiên hạ lại tiến bộ như vậy. 1 Thanh niên trẻ tuổi mà có nội lực thâm hậu như vậy quả là nhân tài" 

Sau đó Đoàn Dự lao ra cầm chân Mộ Dung Phục nên 1 mình ông xử đẹp tên Du Thản Chi. Sau trận chiến ông gặp lại được cha đẻ là Tiêu Viễn Sơn, biết được kẻ chủ mưu giết mẹ và quan trọng hơn là gặp được nhà sư quét rác bá đạo. Nhà sư bá đạo đã nhận 1 chưởng của TP ai ngờ ngân cốt vỡ vụn nhưng cũng k hề hấn gì. Sau đó ông về nước ko lâu ông được nhận lệnh trinh phạt nhà Tống nhưng ông ko đồng ý vì nghĩ đến muôn dân. Ông bị bắt, sau đó được bạn bè và kẻ thù trước kia đến cứu. Sau khi tới Nhạn môn quan ông uy hiếp Hoàng đế Khiết Đan bắt rút quân về nước và tự tận tại đây. Main chết là hết phim.

Võ công

Như đã nói "Đọc là hiểu, hiểu là tinh thông. Khi lâm trận thì biến hóa càng kỳ ảo, gặp đối thủ mạnh thì càng mạnh. Môn võ công nào vào tay ông cũng đều phát huy sức mạnh đến cực đại mà trước đó tới giờ chưa ai làm được. Mà sau này cũng chả ai sánh được."
Có đoạn viết như sau: Khi Tiêu Phong cùng A Tử đang đi về phía bắc thì gặp bọn sư huynh của A Tử tới đòi Thần Mộc Vương Đỉnh. Lúc này đã xảy ra đánh nhau. Tiêu Phong cầm chiếc trượng sắt của tên mập ném thằng và vách đá. Chỗ ông ném là những phiến đá xanh rắn như thép. Ấy vậy mà cây gậy nhút vào trong đá sâu tới 5 thước (khoảng 1m). Lúc này ông cũng kinh ngạc "Mấy tháng nay ta bận công việc không chăm lo luyện võ ấy thế mà nội lực lại tăng lên không ngừng. Nếu 1 năm trước thì không thể làm được như thế". Chi tiết này rất nhỏ nhưng lại cho thấy Tiêu Phong là một người đặc biệt, nội lực không luyện mà cứ thế tăng. Nếu như ông chăm lo luyện võ 20-40 năm sau thì không biết bá đạo như nào.
Ai cũng biết võ công mạnh nhất và được sử dụng nhiều nhất của Tiêu Phong là Hàng Long thập bát chưởng nhưng thực lực võ công của Tiêu Phong như nào? Ông còn biết các loại võ công nào khác?

1:  Hàng long thập bát chưởng

Cái Bang thần công Hàng Long Thập Bát Chưởng, trong thời Bắc Tống vốn là 28 chưởng, lúc ấy bang chủ Tiêu Phong võ công cái thế, ông đơn giản hóa, đem 28 chưởng giảm mười  chưởng rườm rà k cần thiết có tính chất lặp đi lặp lại, trở thành Hàng Long Thập Bát Chưởng. Hàng Long Thập Bát Chưởng do nghĩa đệ Hư Trúc Tử Linh Thứu Cung thay mặt truyền lại. Đến những năm cuối triều đại Nam Tống, tuy bang chủ kế vị Gia Luật Tề được nhạc phụ Quách Tĩnh truyền thụ toàn bộ chưởng pháp, nhưng sau này bang chủ tiếp nhậm Cái Bang, do căn cơ không tốt, nhiều nhất cũng chỉ học được đến 14 chưởng. Đến đời bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long thì chỉ còn học được 12 chưởng". Sau khi Sử Hỏa Long chết, cùng với sự suy vi của Cái Bang, bộ chưởng pháp này coi như bị thất truyền. Sử Hỏa Long thời Trương Vô Kỵ nha các bợn. Từ đó cho thấy cái bang suy vi như nào. Đọc qua đoạn này rút ra dc kết luận: Không có môn võ nào yếu chỉ có người luyện chưa tinh thôi.

2: Đả cẩu bổng pháp

Đả Cẩu Bổng Pháp là một trong những tuyệt chiêu trấn phái của Cái Bang. Song hành cùng đó là "Hàng Long Thập Bát Chưởng". Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, là một loại côn pháp chí cao, bao đời Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà nổi danh giang hồ. Môn đả cẩu này rất khó học ko phải Bang Chủ đích thân truyền thì ko thể học nổi cho dù có thông mình đến đâu. Môn này được đánh giá cao hơn Hàng Long Thập Bát Chưởng nhưng do bổng pháp uyển chuyển, linh hoạt ko hợp với sự mạnh mẽ kiêu hùng của Tiêu Phong nên ông ko sử dụng mà thôi (hoặc do Kim Dung quên). Đến đời Hoàng Dung - con gái của Đông Tà Hoàng Dược Sư thì  môn bổng pháp này được biết đến rộng rãi. Chắc là do phù hợp với phái nữ. Đả Cẩu Bổng Pháp có tổng cộng 36 chiêu, mỗi chiêu có nhiều thức biến hóa khác nhau tạo thành vô số chiêu thức tinh diệu. Đả Cẩu Bổng Pháp được thi triển theo đường lối "Tứ lạng bạt thiên cân" (Bốn lạng bạt ngàn cân), võ công được áp dụng theo 8 chữ khẩu quyết (bát tự quyết): Buộc, Đập, Trói, Đâm, Khều, Dẫn, Khóa, Xoay.
Trong Thiên Long Bát Bộ thì chú trọng về chưởng pháp hơn nên Mộ Dung Phục mới học được bí khíp môn bổng này chứ không học được chưởng pháp. Còn trong Thần Điêu Đại Hiệp nói rõ về bổng pháp hơn là: môn này là tuyệt kỹ trấn phái trong bang chỉ bang chủ đời trước truyền lại cho bang chủ đời sau chứ nhất quyết k truyền cho người ngoài. Còn Hàng Long Thập Bát Chưởng có thể truyền cho đệ tử chân truyền như Hồng Thất Công truyền cho Qách Tĩnh. Tiêu Phong là bang chủ đương nhiên phải học môn này rồi.

3: Thiếu Lâm Long trảo thủ

Chúng ta đều biết Long trảo thủ là của Thiếu Lâm và tại sao Tiêu Phong lại học được món này?
Khi giao đấu với Bao Bất Đồng Tiêu Phong đã sử dụng món võ công này. Vương Ngữ Yên nhận ra nên đã nhắc Bao Bất Đồng rằng (Sang châu tam thức trong Long trảo thủ hay tuyệt, Bao tam ca cẩn thận cùi trỏ tay trái sẽ đánh vào ngực, chưởng phải đánh vào mạng sườn, tay trái chộp vào khí Hộ đó là chiêu Bái Nhiên Hữu Vũ trong Lòng trảo thủ.) nhưng BBD ko thể đỡ dc vì Tiêu Phong sử dụng quá nhanh. Bao Bất Đồng trách khéo Vương Ngữ Yên là cô nương nhắc ko chậm cũng ko nhanh, đúng lúc nói ra thì đã trúng đòn rồi. Vương Ngữ Yên giải thích rằng Thiếu Lâm Long Trảo thủ của Kiều bang chủ quá nhanh ta nói ko kịp.
Tiêu Phong là học trò của Huyền Khổ, đại sư Thiếu Lâm và ông truyền cho Tiêu Phong món võ công này là chuyện thường tình. Hoặc có thể do ông học lén ở đâu đó. Huyền Khổ là người duy nhất trong Thiếu Lâm tu luyện môn Nhiên Mộc Đao Pháp biết đâu lại truyền cho TP rồi cũng nên nhưng ko có bằng chứng nên ko chắc được vụ này.

4: Cầm Long Công

Nói đến Cầm Long Công chắc chỉ 10% các bạn theo dõi truyện kiếm hiệp của Kim Dung là biết. Và môn võ công này cũng chỉ xuất hiện 1 lần trong Thiên Long Bát Bộ và nó là một môn võ công thần bí và tuyệt diệu. Khi đập nhau với Phong Ba Ác Tiêu Phong ra đòn bất ngờ hắn tỏ vẻ không phục nên xin đấu lại. Tiêu Phong ko nói gì, giơ chộp vào không khí 1 cái, 1 luồng kính lực bắn vào thanh đao thanh đao này bay vào tay ông sau đó ngón tay Kiều Phong đảo 1 cái cán đao quay ngược về phía Phong Ba Ác. Phong Ba Ác thốt lên: đó có phải Cầm Long Công? Trên đời này quả thực có người biết môn võ công thần kỳ này ư? Tiêu Phong đáp là mới học lỏm được. Trước kia hẳn là có người sử dụng món võ công này nên trong giang hồ mới biết đến nó, nhưng do nó quá thần kỳ nên nghĩ rằng chỉ là tin đồn. 
Cầm Long Công và Khổng Hạc Công là những môn võ có thể chộp được binh khí từ xa khoảng 10 thước. Luyện bá đạo thì chộp được cả người.
Tiêu Phong liếc sang Vương Ngữ Yên thấy cô nương ko bình phẩm gì về võ công của mình thấy làm lạ thì ra cô nương này đang bị thất thần. "Võ công của Kiều Bang chủ cao cường thế mà lại đứng cùng hàng với Mộ Dung Công tử. Giang hồ đồn rằng Bắc TP Nam MD thế nhưng võ công của biểu ca làm sao...làm sao... có thể sánh bằng?". Môn này giống thiên đạo của Pain nè. ahihi

5:Thái Tổ Trường Quyền

Thái Tổ Trường Quyền là món võ công của Tống Thái Tổ truyền lại cho nhân dân Đại Tống vậy nên hầu như ai cũng biết môn võ công này. Cái này gọi là võ công đại trà, rất tầm thường. Trong võ lâm 2 thì Thái Tổ Trường Quyền là 1 quyển sách cùi bắp cấp 10 mà méo ai học luôn.  Được khai sinh trong thời đại chiến loạn, Thái tổ trường quyền rất chú trọng đến yếu tố thực chiến, công thủ toàn diện, đi quyền nhanh như gió, xuất đòn tựa tia chớp. Tính thực dụng khiến việc học Thái tổ trường quyền tưởng dễ mà lại rất khó. Vậy nên người đời chỉ học được cái sơ sơ chứ cái tinh túy thì ko nắm được hết.
Số lượng 32 đường quyền không phải là quá nhiều, tuy nhiên để hiểu cách kết hợp các chiêu thức với nhau cần một quá trình luyện tập công phu.
Người học đầu tiên phải tập kỹ cơ nội dung cơ bản bao gồm “Tam hình”, “Ngũ công”. “Tam hình” là đầu, thủ (tay) và bộ(tấn), “Ngũ công” là cánh tay, cước, eo, trang và khí.
Bản thân các chiêu thức trong môn võ này cũng mang tính khắc chế lẫn nhau. Do đó việc nắm vững tất cả là yêu cầu bắt buộc. Khi oánh nhau ở Tụ Hiền Trang Tiêu Phong dùng Thái Tổ Trường Quyền oánh tơi bời đại sư Huyền Nạn. (Trong phim thì các nhà sư thiếu lâm trông cùi cùi vậy thôi nhưng trong truyện mạnh lắm nha. Như Phưng Trượng Thiếu Lâm Huyền Từ là nhân tài cả 100 năm mới có 1 người mà chỉ luyện được có 6-7 thành của môn Đại Kim Cương Quyền pháp thôi nhưng đã bá đạo giang hồ rồi. Còn các vị hòa thượng khác cũng thuộc hàng cao thủ.) Vì Tiêu Phong kính trọng đại sự nên chiêu nào cũng nhường ông, luôn để ông xuất chiêu trước rồi mới đỡ. Nhưng môn đặc thù của môn Thái Tổ Trường Quyền thì xuất sau cũng có cái lợi là khắc chế được Huyền Nạn. Nói ra thì đơn giản nhưng cao thủ đánh nhau, hơn thua nhau chỉ nửa chiêu mà đằng này Tiêu Phong lại chấp như thế thì khác nào tự nhận cái thua. Nhưng ngờ đâu ông xuất sau nhưng lại đến trước, chiêu nào chiêu ấy thập toàn thập mỹ. Thái Tổ Trường Quyền thì ai cũng biết nhưng sử dụng được như Tiêu Phong thì lần đầu họ nhìn thấy thế nên tại Tụ Hiền Trang ai cũng trầm trồ khen ngợi mà ko dám nói ra vì Tiêu Phong lúc này đang là kẻ thù của họ.

Cái chết

Về cái chết của Tiêu Phong khiến nhiều người nuối tiếc nhưng ông còn lựa chọn nào cho mình?
Tiêu Phong thề ko giết người Hán mà tại Tụ hiền trang ông giết quá nhiều, trước kia Tiêu Viễn Sơn cũng thề như thế nhưng lại giết quá nhiều người tại Nhạn môn quan cho dù đó là lý do tự vệ nhưng ông vẫn nhảy vực tự sát.
Tiêu Phong đã uy hiếp Hoàng đế Khiết đan đó là bất trung. Ông về nước Tống thì sẽ là đại Địch với nước Liêu về nước Liêu thì ko còn mặt mũi nào. Vậy nên ông k còn trốn dung thân.
Ông có từng nghĩ đã ẩn cư sống cuộc đời ẩn giật nhưng ở với ai khi người yêu đã chết? Người giết chết lại là chính mình, còn gì để sống trên đời này nữa? Có quá nhiều lý do để Tiêu Phong chết nên chuyện gì đến đã đến. Ông đã ra đi ở tuổi còn xanh!
Nhiều người thắc mắc rằng Tiêu Phong và quách tĩnh ai mạnh hơn? Mình k thích so sánh các nhân vật ở các chuyện khác nhau nên mình ko đưa ra ý kiến về vấn đề này. Nó giống như kiểu đi so sánh Sôn Gô Ku với các anh hùng Marvel hay Naruto với Luffy vậy. Họ ở những thế giới khác nhau thì kệ họ đi gộp chung vào làm j. Tuy là truyện viết trên thế giới thực tại nhưng họ hoàn toàn là những thế giới khác nhau, ban đầu chả liên quan gì tới nhau nhưng sau đó Kim Dung sửa tới sửa lui cho nó khớp với nhau 1 chút nhưng mà nhiều cái nó vẫn chả hợp lý tí nào. Vì thế nên ko nên so sánh các nhân vật trong 2 thế giới khác nhau với nhau. Truyện của Kim Dung có 1 số nhân vật có thật như Đoàn Dự là vua nước Đại Lý nhưng truyện là do ông sáng tác chứ ko phải là thực nhé. Truyện chỉ là trí tưởng tượng của các nhà văn thôi nên các bạn đừng cho rằng nó là lịch sử hay sự thật nhé. Hãy là người đọc truyện thông minh!
Nhưng nếu nhất quyết so sánh Tiêu Phong với Quách Tĩnh thì mình cho rằng QT cửa dưới.

Võ Tòng có thật hay hư cấu?

Võ Tòng (chữ Hán: 武松; bính âm: Wǔ Sōng), ngoại hiệu Hành giả (chữ Hán: 行者; tiếng Anh: Pilgrim), là một nhân vật trong tiểu thuyết Thủy hử. Võ Tòng cũng xuất hiện trong Kim Bình Mai – một tác phẩm dựa trên câu chuyện của Thủy hử, và một số tác phẩm khác. Võ Tòng nguyên là thủ lĩnh núi Nhị Long và sau này tụ nghĩa ở Lương Sơn Bạc. Khi ở Lương Sơn, Võ Tòng là đầu lĩnh thứ 14, được sao Thiên Thương Tinh (chữ Hán: 天傷星) chiếu mệnh. Do ảnh hưởng của Thủy hử, trong một thời gian dài nhân vật Võ Tòng được xem là một nhân vật hư cấu. Tuy nhiên, về sau, dựa trên một số bằng chứng, các nhà nghiên cứu đã cho rằng Võ Tòng là một nhân vật có thật trong lịch sử.


Xuất thân của Võ Tòng

Võ Tòng xuất thân từ huyện Thanh Hà, phủ Đông Bình, tỉnh Sơn Đông. Từ nhỏ ông mồ côi cha mẹ và được anh ruột là Võ Đại Lang (hay Võ Thực) nuôi nấng dạy dỗ. Ông là người tráng kiện, oai hùng, mắt sáng như sao, mày ngài, ngực rộng, cơ bắp cuồn cuộn, cao 8 trượng (33cmx8 = 2,6m). The Rock cao 1m9 cơ bắp cuồn cuộn đứng với ông này chả khác nào trẻ con. Cái này hư cấu thôi, bọn Tàu hay hư cấu cho nhân vật của chúng nó giống anh hùng hơn nhưng chắc cũng phải cao từ 1m8-1m9 đấy. Từ nhỏ, do tính khí Võ Tòng thất thường, lại thấy anh trai mình bị mọi người xung quanh trêu ghẹo vì ngoại hình thấp lùn xấu xí nên ông thường hay đánh lộn với đám trẻ ở quê. Biết mình sức yếu, không quản được em, Võ Thực phải gửi em trai tới chùa Thiếu Lâm (Thiếu Lâm tự). Tại đây Võ Tòng được học võ nghệ từ đại sư Chu Đồng (sư phụ của Lâm Xung, Lư Tuấn Nghĩa, Nhạc Phi). Lớn lên ông có võ nghệ cao cường, thường hay uống rượu, thích hành hiệp trượng nghĩa, nổi tiếng là con người nghĩa khí.

Hai điển tích nổi tiếng

Võ Tòng đả hổ trên gò Cảnh Dương

Do bất hoà với một quản sự phòng cơ mật của huyện Thanh Hà, Võ Tòng đang trong lúc say rượu đã đấm hắn một cú. Thấy hắn bất tỉnh, ông tưởng rằng mình đã giết người nên bỏ trốn đến quận Hoành Hải, nương nhờ Sài Tiến. Gần một năm sau, Võ Tòng biết tin tên quản sự chưa chết nên định tính quay về quê tìm anh trai, nhưng ông lại bị bệnh sốt rét nên chưa về được. Cùng thời điểm ấy anh em Tống Giangvà Tống Thanh cũng đến gia trang của Sài Tiến. Tại đây Tống Giang và Tống Thanh đã chăm sóc bệnh tình của Võ Tòng và kết nghĩa anh em với ông. Đến khi Võ Tòng khoẻ lại, cả ba người Tống Giang, Tống Thanh và Võ Tòng rời khỏi nhà Sài Tiến và hẹn nhau gặp lại.

Trên đường về quê thăm anh, khi đi ngang qua huyện Dương Cốc (nay là thành phố Liễu Thành), Võ Tòng ghé vào một tửu quán, bên ngoài ghi là "Uống 3 chén không nên qua đồi". Võ Tòng vốn thích rượu, thấy dòng chữ này rất khó chịu, hỏi tại sao thì chủ quán kể trên đồi có con hổ thành tinh chuyên ăn thịt người trên đồi Cảnh Dương, ai uống quá say không nên đi qua đó. Võ Tòng nghe vậy rất phẫn nộ, uống một mạch hết rượu trong quán.

Chiều hôm đó, Võ Tòng đang trong cơn say, một mình cầm gậy lên đồi tìm hổ. Sớm hôm sau gặp hổ, ông cầm gậy vờn với mãnh thú tới tối. Đến lúc trời chạng vạng sáng, sau khi dùng nhiều mưu kế mà không được, ông vứt gậy, một tay nhận đầu hổ xuống đất, một tay đấm, con hổ vỡ đầu chết tươi.

Nhờ chuyện này Võ Tòng được huyện lệnh của vùng phong chức Đô đầu.

Sau một năm xa cách, Võ gia huynh đệ gặp lại nhau, vui mừng khôn xiết. Nhân vui mừng, Võ Thực dẫn em về nhà ra mắt người vợ mới cưới của mình - Phan Kim Liên.

Võ Thực là con cả trong nhà nên được gọi là "Võ Đại Lang" (con trai cả nhà họ Võ). Ông làm nghề bán bánh hấp để nuôi lớn Võ Tòng. Võ Thực tuy vóc dáng khiêm tốn, dung mạo xấu xí, nhưng có cô vợ Phan Kim Liên rất đẹp nhưng cũng rất đa tình. Khi Võ Tòng về thăm anh, Phan Kim Liên thấy em chồng dáng hình tuấn kiệt, dung mạo ưa nhìn, hơn hẳn chồng mình nên ả tâm thần say đắm. 

Lựa dịp lúc Võ Thực đi bán bánh vắng nhà, Võ Tòng về nhà sớm, Phan Kim Liên tìm mọi cách dụ dỗ, ve vãn em chồng nhưng đều không có kết quả (Nếu mà bên Nhật thì mọi chuyện đã đi theo hướng khác rồi. ahihi). Thậm chí Võ Tòng còn sỉ mắng ả một trận khiến ả ngượng chín mặt và khuyên ả nên sống cho phải đạo: "Em còn nghe bên ngoài đàm tiếu xấu miệng nữa, trong mắt em còn có thể nhịn được chị, nhưng nắm đấm của em không nhịn được đâu !". Không được đáp trả, Phan Kim Liên uất ức vu luôn với chồng rằng ả bị em chồng trêu ghẹo. Mặc dù Võ Thực hiểu tính em và không tin lời vợ, nhưng Võ Tòng vẫn bỏ nhà và ra ở hẳn nha môn, vừa để làm việc vừa để tránh chị dâu.

Một lần, Phan Kim Liên mở cửa sổ để phơi quần áo, bất cẩn làm rơi thanh sào phơi xuống trúng đầu Tây Môn Khánh. Vừa nhìn thấy Phan Kim Liên, Tây Môn Khánh đã si mê, rồi sau nhờ Vương bà làm mối giùm mình để dan díu với ả. Tây Môn Khánh biết Võ Tòng lợi hại nên đã loại bỏ ông bằng cách mua quà tặng cha nuôi - thái sư đương triều Thái Kinh - và nhờ quan huyện giao việc hộ vệ cho Võ Tòng. Nhờ đó mà cứ khi nào Võ Đại Lang ra ngoài bán bánh, Phan Kim Liên lại lấy lí do sang nhà Vương bà may áo cho bà để tư thông với Tây Môn Khánh.

Cái kim trong bọc lâu ngày lòi ra, nhờ chú bé bán lê Kiều Vận Ca báo tin, Võ Đại Lang phát hiện ra vợ mình hư hỏng bèn chạy đến nhà Vương bà bắt đôi gian phu dâm phụ. Nhưng do thể chất yếu đuối, Võ Đại Lang đánh không lại Tây Môn Khánh, ngược lại bị hắn đánh hộc máu, phải nằm liệt giường một tuần không đi bán bánh được. Thấy chồng ốm, Phan Kim Liên không những không chăm sóc mà còn buông lời sỉ vả, đến chán miệng thì trang điểm lộng lẫy, quần là áo lượt ra đi. Võ Đại Lang giận dữ doạ vợ rằng nếu không chăm sóc mình thì khi Võ Tòng về sẽ kêu ông trả thù. Ả dâm phụ sợ hãi nói lại với tình nhân. Vương bà bèn bày mưu cho ả dùng thuốc độc giết Võ Đại Lang. Khi Võ Đại Lang chết, đôi gian phu dâm phụ không còn tư thông ở nhà Vương bà nữa, mà sang hẳn nhà họ Võ vui vầy.

Đến khi Võ Tòng về, biết anh trai đã mất mà không rõ lí do, bèn hỏi người trong huyện. Mọi người đều nói rằng chỉ có hai người biết rõ chuyện nhất là Hà Cửu thúc và Kiều Vận Ca. Võ Tòng bèn đi tìm hai người hỏi rõ ngọn ngành, rồi đưa họ đến công đường lấy lời khai. Nhưng quan huyện lại sợ uy thế của Tây Môn Khánh, xử Võ Tòng thua kiện. Ông về nhà chuẩn bị lễ tang, nhờ người ghi lại tất cả lời khai, rồi trước sự chứng kiến của những người hàng xóm, ông ép Phan Kim Liên khai tội rồi mổ bụng, cắt đầu ả, đem ruột và đầu lên tế vong linh anh trai mình. Giết xong chị dâu, Võ Tòng tiếp tục tới lầu Sư Tử giết Tây Môn Khánh rồi chặt đầu hắn đem về tế anh.

Kết cục, Vương bà vì dắt mối bày mưu khiến dâm phụ hại chết chồng nên bị quan phủ xử tử lăng trì, còn Võ Tòng thay vì phải đền mạng do giết người thì được xá nhẹ, chỉ bị đi đày đến Mạnh Châu.

Tại Mạnh Châu

Trên đường đi lưu đày, Võ Tòng và hai người công sai ở lại quán rượu của Trương Thanh và Tôn Nhị Nương. Nghe đồn quán rượu này làm bánh bao nhân thịt người, Võ Tòng tìm mọi dịp để xác nhận xem tin đồn thật hay giả. Khi biết rõ mọi chuyện, ba người từ bỏ nghi ngại lẫn nhau và kết nghĩa anh em.

Khi đến nhà tù Mạnh Châu, Võ Tòng được Thi Ân chiếu cố, ông giúp họ Thi đánh bại Tưởng Môn Thần để lấy lại nơi làm ăn đã bị cướp từ tay hắn. Tưởng Môn Thần tức tối, câu kết với Trương đoàn luyện và Trương đô giám hãm hại Võ Tòng, vu cho ông tội ăn cắp. Võ Tòng bị giải lên quan phủ xét xử, rồi bị giam hãm trong nhà tù. Thi Ân biết chuyện lại nhờ người giúp đỡ, Võ Tòng được giảm nhẹ án, chỉ bị điều đi lưu đày. Trên đường đi đày đồ đệ của Tưởng Môn Thần và hai tên nha sai có âm mưu hại ông, ông giết bọn chúng rồi quay về nhà Trương đô giám báo thù.

Gia nhập Nhị Long Sơn[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi giết người trong nhà Trương đô giám, từ nha hoàn người làm cho đến phụ nữ trẻ em, bị quan phủ dán cáo thị truy nã, Võ Tòng trốn trong nhà Trương Thanh và Tôn Nhị Nương. Hai người bèn bày mưu cho ông hãy cải trang thành hành giả, rồi lên núi Nhị Long, nơi có một băng cướp lãnh đạo bởi chủ trại Lỗ Đạt. Võ Tòng cảm tạ hai người rồi lên đường.

Giữa đường, vào quán rượu nghỉ ngơi, Võ Tòng lại đụng độ với hai anh em Khổng Minh và Khổng Lượng. Trong lúc say, ông nằm bất tỉnh gần hồ nước, bị anh em họ Khổng phát hiện, bắt về trói đánh. Tống Giang đang ở nhà họ Khổng nên đã gặp lại Võ Tòng. Đến sáng hôm sau, hai người từ biệt nhau, Võ Tòng lên núi Nhị Long còn Tống Giang đến Giang Châu. Sau này cả Trương Thanh, Tôn Nhị Nương và Thi Ân cũng đến núi Nhị Long.

Gia nhập Lương Sơn

Sau khi Lương Sơn Bạc thu phục Hô Diên Chước, Võ Tòng cùng các hảo hán núi Nhị Long cũng gia nhập Lương Sơn Bạc.

Hình ảnh Võ Tòng trong Hậu Thủy hử: Đánh Phương Lạp

Trong lúc đánh Mục Châu, khi giao chiến, ông bị đại tướng Bao Đạo Ất bên Phương Lạp vây khốn trong trận pháp, bị chặt đứt cánh tay. Khi đánh thắng Phương Lạp trở về, Võ Tòng xuất gia tại chùa Lục Hòa tại Hàng Châu, thọ đến 80 tuổi mới mất.

Vậy Võ Tòng có thật không? 
Tống sử không thấy chép về Võ Tòng nhưng trong các sử tịch như “Lâm An huyện chi”́, “Tây Hồ đại quan”, “Hàng Châu phủ chi”́, “Triết Giang thông chi”́... đều có ghi rõ nhân vật này là quan đề hạt ở phủ Hàng Châu, người hiệp nghĩa, vì dân trừ hại. Theo đó, Võ Tòng vốn là người mãi võ, luân lạc giang hồ, “tướng mạo kỳ vĩ, thường biểu diễn võ nghệ trước Dũng Kim môn”. Quan tri phủ Hàng Châu là Cao Quyền thấy Võ Tòng võ nghệ cao cường, tài năng xuất chúng mới mời vào phủ, cho nhận chức đô đầu (phụ trách về tội phạm hình sự của huyện nha). Không lâu sau, nhờ có công, Võ Tòng được thăng làm đề hạt (phụ trách toàn bộ về trật tự trị an), trở thành tâm phúc của tri phủ. Về sau, Cao Quyền đắc tội với cấp trên, bị kẻ gian vu hãm phải bãi quan. Võ Tòng cũng do đó mà bị liên lụy, ra khỏi nha môn.
Quan tri phủ mới Sái Quân - con trai quan thái sư Sái Kinh - là một gian thần, ỷ thế cha lộng quyền, hống hách, ngang ngược, dân chúng Hàng Châu oán hận gọi y là “Sái Hổ”. Võ Tòng quyết tâm vì dân trừ hại. Chàng ta một mình giấu đao, nấp trước Sái phủ, khi Sái Hổ cùng quân lính tiền hô hậu ủng vừa đến thì liền dũng mãnh lao vào truy sát. Sái Hổ bị đâm chết nhưng quân lính bao vây quá đông, Võ Tòng không thể địch lại nên bị bắt. Võ Tòng bị cực hình chết trong ngục. Dân chúng Hàng Châu cảm ân đức nên táng ở bên cầu Tây Linh, Hàng Châu, lập bia đề “Tống nghĩa sĩ Võ Tòng chi mộ”. Cái này giống với giết Tây Môn Khánh nè. Nhưng kết cục lại khác hoàn toàn.
Vì trong sử sách không ghi chép nên nhân vật Võ Tòng đến giờ vẫn còn nhiều tranh luận.
Giết hổ? Hổ to và rất khỏe, răng và móng vuốt cực kỳ sắc bén, với 1 cú vả thôi cũng đủ onehit đối thủ yếu đuối như con người. Cho dù có sức khỏe, nhanh nhẹn nhé được Hổ đi nữa nhưng tay không đấm hổ là điều không thể. Trừ khi con hổ đó là hổ con. Con mèo bé tẹo nó cào cho 1 cái còn đau như nào nữa là con hổ to gấp 100 lần con mèo nó vả thì xác định sml nha.
Long đong phần mộ
Mộ Võ Tòng nhiều phen bị khai quật, dời đổi. Nhà mỹ thuật nổi tiếng Khương Đan Thư từng viết về tình trạng quan quách Võ Tòng vào năm 1891: “Ngô Kiếm Phi một hôm đi qua Dũng Kim môn, Hàng Châu, trông thấy một bộ quan tài được những người thợ sửa tường thành đưa ra. Mặt trên quan tài có đề “Võ Tòng chi cữu” (linh cữu của Võ Tòng), thể chữ đời Tống, mỗi chữ vuông vắn 6 tấc được khắc nổi, thếp vàng, sắc vàng chưa đổi. Quan tài đã mục, to lớn hơn bình thường, màu sơn đen ánh sắc hồng. Lúc đầu, ai cũng cho rằng mộ Võ Tòng chỉ là mộ trống hoặc y quan trũng (mộ chôn mũ áo tượng trưng) nhưng khi quật lên thì có quan, quách khá lớn. Nhìn qua khe hở quan tài có thể thấy bộ hài cốt to lớn”.
Trương Đan Thư cho biết khi chuyển mộ Võ Tòng sang Tây Hồ vào năm 1924, trùm bến Thượng Hải bấy giờ là 3 đại lão hanh (bố già) Hoàng Kim Vinh, Trương Tiêu Lâm và Đỗ Nguyệt Sênh cùng tài trợ tiền của, làm bia lập mộ. Việc này có chép trong tự truyện “Đỗ Nguyệt Sênh trong mắt một vị Trung y Thượng Hải”.
Vào tháng 9-1964, Mao Trạch Đông có chỉ thị về việc thu gom tất cả mộ danh nhân nằm rải rác ở Tây Hồ, Hàng Châu, “quét sạch ảnh hưởng tư tưởng phản động hủ bại”. Vì thế, hàng loạt mộ phần từ danh nhân - như: Nhạc Phi, Vu Khiêm, Võ Tòng, Tô Tiểu Tiểu, Lâm Hòa Tĩnh, Phùng Tiểu Thanh... - đến chí sĩ - như: Thu Cần, Từ Tích Lân, Bùi Thiệu, Đào Thành Chương, Tô Mạn Thù, Lâm Khải, Tuệ Hưng... - đều bị khai quật chuyển đến chôn tập thể trong 10 ngôi công mộ tại Mã Pha, Kê Lung Sơn, ngoại ô Hàng Châu để “sinh hoạt cộng đồng”. Đến tháng 3-1965, có 654 ngôi mộ đã bị gom đi. Bên cạnh đó, vô số tượng, bia cổ quý giá ở tháp Lục Hòa, chùa Vân Tê, miếu Nhạc Phi... cũng bị phá hủy. Mẹ cái thằng Tam Mao phá làng phá xóm này lại phá hoại mộ của anh Tòng.
Sau khi Cách mạng văn hóa kết thúc, phần mộ của các danh nhân mới lần lượt được đưa về chốn cũ. Mộ Võ Tòng được trùng tu vào năm 2004. Trên cổng khu mộ có 4 chữ “Khâm kỳ khôi vĩ” và đôi liễn do nhà thư pháp trứ danh Phùng Ký Tài viết “Thất ý thả ngũ hào khách, Đắc thời đệ nhất anh công” (lúc không được như ý thì cũng là trang hào khách, lúc gặp thời là bậc anh minh).
Trong cuốn “Tống Giang tam thập lục nhân tán” (Ca ngợi nhóm 36 người của Tống Giang), họa sĩ Cung Khai đời Nam Tống có vẽ hình Hành giả Võ Tòng với lời tán: “Nhữ ưu bà tắc, Ngũ giới tại thân, Tửu sắc tài khí, Cánh yếu sát nhân” - đại ý rằng Võ Tòng là người đã xuất gia thọ giới nhưng không quan tâm tuân thủ giới luật; tửu sắc, tiền bạc, cho đến giết người, Võ Tòng cũng chẳng kiêng.
Nguyên mẫu của Biện Nguyên Hanh?
Theo một số nhà nghiên cứu, Võ Tòng là nguyên mẫu của võ tướng Biện Nguyên Hanh, bạn thân Thi Nại Am. Biện Nguyên Hanh võ nghệ cao cường, sức mạnh hơn người. Lúc ấy, ở một dải Biện Thương có một con hổ dữ, người dân không dám đi riêng lẻ. Biện Nguyên Hanh một mình đến đây, tay không đánh chết mãnh hổ.
Là một mưu sĩ của Trương Sĩ Thành, Thi Nại Am biết nhiều chuyện trong nội bộ tập đoàn thống trị này. Về sau, thấy họ Trương đam mê tửu sắc, bỏ bê chính sự, không nghe can gián, Thi Nại Am về ẩn cư và viết “Thủy hử truyện”. Ông đưa vào truyện nhiều nhân vật mà mình quen biết dưới trướng Trương Sĩ Thành, như anh em bán muối lậu Đồng Uy - Đồng Mãnh hay Nụy cước hổ Vương Anh là người đánh xe ở Lưỡng Hoài...
Kết luận: 
Ta có thể kêt luận răng: Võ Tòng là nhân vật có thật trong lịch sử nhưng điển tích đấm hổ và giết Phương Lạp như trong Thủy Hử thì lại là do anh Thi Nại Am buff rồi. Ông này giống Oda éo tả được ý. Còn Võ Tòng được viết theo hư cấu hay viết cho giống bạn của ông tác giả thì ko ai biết được vì ông ý nghẻo cmnr. Nhưng kết luận chung là miệng lưỡi nhân gian giống như mạng xã hội facebook vậy. Thấy hotgirl chỉ tin 40% thôi nhé. 

Phương Lạp là ai? Có phải do Võ Tòng giết không?

Phương Lạp giản thể: 方腊; phồn thể: 方臘; bính âm: Fāng Là (?-1121) là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc. Phương lạp là người Minh giáo (Mani giáo) ông lợi dùng truyền giáo để tuyển quân khởi nghĩa.

Khởi binh

Phương Lạp là người thôn Yết người huyện Hấp, tỉnh An Huy, có thuyết cho là ở Thanh Khê, Mục Châu (nay là Thuần An, Hàng Châu, Chiết Giang). Tuy ông là người huyện Hấp nhưng ông ko hấp tý nào và ông cũng ko thích đồ hấp.

Phương Lạp xuất thân nghèo khổ, tính tình hảo sảng, rất được lòng người, lại có tài tổ chức. Cuối thời Bắc Tống, nhân dân bị bóc lột nặng nề, đời sống khổ cực. Hoạn quan Đồng Quán lấy lòng Tống Huy Tông thích cây cỏ lạ, đá quý, sai Chu Miễn đi cướp bóc nhân dân Giang Nam cống nộp và chuyên chở hoa thạch cho vua, khiến nhân dân căm giận.

Phương Lạp nhân sự oán thán của dân chúng trong vùng bèn bí mật tập hợp những người không nghề nghiệp lại thành lực lượng riêng để chống lại triều đình. Lực lượng tập hợp bên cạnh Phương Lạp ngày càng lớn mạnh. Ông lợi dụng việc truyền bá Mani giáo (Minh giáo) để kêu gọi đa số nông dân nghèo khổ trong vùng nổi dậy khởi nghĩa.

Tháng 10 năm 1120 ở động Bang Nguyên, huyện Thanh Khê (nay là huyện Thuần An,tỉnh Chiết Giang), Phương Lạp cùng các thủ hạ nổi dậy chống nhà Bắc Tống. Ông lấy hiệu là Thánh công, lập ra triều đình riêng, đặt niên hiệu là Vĩnh Lạc, đặt ra các bậc quan lại, tướng soái, lấy màu khăn đội đầu để phân biệt. Từ khăn màu đỏ trở lên chia làm 6 bậc.

Phát triển

Trong quân Phương Lạp không dùng cung tên, giáo mác, không mặc áo giáp, chỉ dùng quỷ thần huyền bí để khiến mọi người tin theo. Miền nam nhà Bắc Tống trải qua hòa bình nhiều năm, thấy chiến sự đều sợ hãi nghe lệnh đi theo Phương Lạp đến hàng vạn người[3].

Quân Phương Lạp đông đảo khá mạnh, tiến ra đánh chiếm Tức Khanh, giết chết tướng Quan Sát Đạo. Tháng 11 năm 1120, Phương Lạp vây hãm Thanh Khê, tới tháng 12 thì vây hãm Mục châu và Hàn châu. Không lâu sau Phương Lạp lại tiến về phía nam vây hãm Hoành châu, giết chết quận thú là Bành Nhữ Phương.

Thắng lợi ở Hoành châu, Phương Lạp tiến lên phía bắc đánh chiếm các huyện Tân Thành, Đồng Lô, Phú Dương, tiếp cận Hàng châu. Quận thú nhà Tống sợ hãi bỏ thành chạy[4].Ngày 29 tháng 12 Phương Lạp đánh chiếm Hàng châu, giết chết Chế trí sứ Trần Kiến và Kiêm phỏng sứ Triệu Ước, phóng hỏa thiêu cháy thành trong 6 ngày.

Trong lúc Phương Lạp liên tiếp giành thắng lợi thì trong triều, Vương Phụ giấu tin tức ngoài mặt trận không báo cáo lên khiến Phương Lạp ngày càng mạnh. Ở vùng Lan Khê, Linh Sơn, Phương Lạp được sự hưởng ứng của Ngô Bang ở huyện Phán, Lã Sư Nhương ở Tiên Cư, Trần Thập Tú ở núi Phương Nham, Thạch Sinh ở Tô châu, Lục Hành Nhi ở Quy An. Trong vùng ngày càng nhiều người quy tụ về Phương Lạp.

Phương Lạp đã thành lập chính quyền nông dân tại 6 châu 52 huyện thuộc 4 tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, An Huy và Giang Tây, có ảnh hưởng rất rộng thời bấy giờ. Tục tư trị thông giám chép về khởi nghĩa Phương Lạp: "Phàm phá lục châu, ngũ thập nghị huyện, tường bình dân nhị bách vạn" (Đánh phá 6 châu 52 huyện, giết hại hai trăm vạn dân thường).

Thất bại

Lực lượng Phương Lạp phát triển rầm rộ cuối cùng khiến Tống Huy Tông hay biết và rất lo lắng. Phó vận sứ Trần Đình Bá đề nghị điều binh lính kinh kỳ và quân cung nỏ thiện xạ đi trấn áp.

Tống Huy Tông vội hạ lệnh bãi bỏ việc tìm hoa thạch cương để bớt sự bất bình của dân chúng, rồi cử hoạn quan Đồng Quán làm Tuyên phù sứ Giang, Triết, Hoài Nam, lãnh trách nhiệm tổng chỉ huy cùng Đàm Trinh cầm 15 vạn cấm quân cùng quân từ các vùng Tần, Tấn, Phiên, Hán đi đánh Phương Lạp.Quân Tống vượt Trường Giang, chia binh giữ Kim Lăng, Trấn Giang, rồi chia làm 2 đạo, một sang Đông tăng viện cho Tú Châu, một sang phía Tây tiếp viện cho Hấp Châu.

Tháng giêng năm 1121, Phương Lạp lệnh cho Phương Thất Phật mang 6 vạn quân đến đánh Tú châu. Vương Tử Vũ giữ thành cố thủ, Phương Thất Phật không đánh được. Không lâu sau viện binh của Đồng Quán kéo đến, trong ngoài cùng giáp công đánh Phương Thất Phật thua to, bị giết 9000 người. Phương Lạp rút về cố thủ ở Hàng châu.

Tháng 2 năm 1121, quân Đồng Quán kéo đến bờ sông Thanh Hà, hai cánh quân áp sát lại giáp công. Phương Lạp thua to, thiêu hủy cả quan phù, kho tàng và bỏ chạy trong đêm đó.

Tháng 4 năm 1121, Phương Lạp thua trận cuối cùng, 7 vạn quân bị giết. Quân Tống đánh đến động Bang Nguyên, bắt sống Phương Lạp cùng vợ, hai con trai và các thuộc hạ do Phương Phì đứng đầu gồm 52 người.

Đến ngày 24 tháng 8 năm 1121, ông cùng các tướng lĩnh đều bị xử tử. Phương Lạp trước sau xưng hiệu được 7 tháng, không rõ bao nhiêu tuổi.

Dù Phương Lạp chết nhưng các thủ hạ vẫn tiếp tục chống lại triều đình khiến các tướng nhà Tống phải đánh dẹp mãi tới tháng 3 năm 1122 mới hoàn thành. Sau khi lực lượng Phương Lạp bị dẹp, Tống Huy Tông lại phát lệnh bắt dân tìm nộp hoa thạch như trước.

Ảnh hưởng

Mặc dù khởi nghĩa Phương Lạp thất bại, nhưng nhân dân một số địa phương thuộc huyện Hấp và Thuần An vẫn kính trọng vị lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân. Tên của Phương Lạp được đặt cho một số địa danh, đến nay một số địa phương còn có động Phương Lạp, trại Phương Lạp.

Trong văn học

Phương Lạp được nhắc đến trong tiểu thuyết Hậu Thủy hử của Thi Nại Am và La Quán Trung. Trong những hồi cuối cùng của tác phẩm, sau khi nhận chiêu an của triều đình, Tống Giang đã đi tiên phong đánh dẹp Phương Lạp. Lực lượng của Phương Lạp cũng chính là lực lượng đầu tiên gây tổn thất và là tổn thất nặng nề cho các anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhiều anh hùng tên tuổi của Lương Sơn đã tử trận vì quân Phương Lạp như Tần Minh, Sử Tiến, Trương Thanh, Đổng Bình, Vương Anh, Hỗ Tam Nương, Nguyễn Tiểu Nhị, Nguyễn Tiểu Ngũ… Trong hơn 100 người ra trận chỉ còn 27 người trở về. Cuối cùng, Phương Lạp bị Võ Tòng bắt được trên đường chạy trốn và bị mang về kinh xử tử. Những chi tiết này hoàn toàn không có trong lịch sử do quân Phương Lạp không phải thất bại dưới tay quân Lương Sơn.

Tham khảo: Tống sử quyển 468

Tống Giang trong Thùy Hử có thật hay không?

Tống Giang (chữ Hán: 宋江), là một nhân vật có thật sống vào thế kỷ 12 dưới triều Tống ở Trung Quốc. Tuy nhiên, cuộc đời thật của ông chỉ được sử sách (Tống sử) đề cập rất ít và không giống những gì miêu tả trong Thủy hử....

Trong tác phẩm Thuỷ hử

Trong tác phẩm Thuỷ hử của Thi Nại Am, ông là một trong những nhân vật chính, có tên hiệu là Hô Bảo Nghĩa (Người kêu gọi chính nghĩa), còn gọi là Tống Áp Ty, Tống Công Minh hay Cập Thời Vũ. Tống Giang là vị đầu lĩnh của 108 anh hùng Lương Sơn Bạc sau khi Tiều Cái trúng tên qua đời. Nghĩa quân của ông hoạt động ở các tỉnh Sơn Đông và Hồ Nam, trước khi đầu hàng triều đình.

Tống Giang nổi tiếng là người tốt, hay giúp đỡ nhiều người nên tiếng đồn khắp nơi. Đầu tiên là việc Tống Giang báo tin giúp Tiều Cái, Ngô Dụng, Công Tôn Thắng... chạy thoát lên Lương Sơn Bạc. Vì Hà Đào được lệnh đến báo quan phủ bắt bọn cướp đồ lễ sinh nhật của Sái Kính. May sao lại ngay giờ trưa, quan phủ nghỉ; Hà Đào mới vào quán trà đợi, gặp Tống Giang. Hà Đào vô tình tiết lộ cho Tống Giang biết bọn cướp là Tiều Cái, Ngô Dụng... Tống Giang lừa Hà Đào ngồi đợi, phóng ngựa như bay đến báo tin cho Tiều Cái. Nhờ đó mà Tiều Cái có thời gian thu xếp việc nhà và cùng với các anh em hảo hán thoát thân. Chính vì việc này mà sau khi lên Lương Sơn Bạc, Tiều Cái và Ngô Dụng quyết mời Tống Giang lên tụ nghĩa cho bằng được.

Khi Tống Giang và Đới Tông sắp đưa ra hành hình ở Giang Châu, Lý Quỳ xông ra cứu, Tiều Cái cùng các huynh đệ đang ở Lương Sơn cùng ra cứu. Tống Giang cùng Tiều Cái quay lại giết chết Hoàng Văn Bính, rồi lên Lương Sơn. Tiều Cái muốn nhường trại chủ cho Tống Giang nhưng Tống Giang từ chối. Tống Giang cho treo đại kì "Thế thiên hành đạo" để kêu gọi hảo hán bốn phương về tụ hội. Công Tôn Thắng đoán rằng sau này sẽ có 108 người tụ tại đây.

Tống Giang lập nhiều công cho Lương Sơn như đánh Chúc Gia Trang, Cao Đường Châu, Thanh Châu,... Uy danh của Tống Giang vượt qua Tiều Cái, lúc này ở Lương Sơn đã tụ hội 89 người rồi. Với lại Tiều Cái nhận ra Tống Giang muốn được triều đình chiêu an, Tiều Cái thất vọng và hành động nông nỗi khi thấy Lưu Đường huynh đệ bị Tăng Đầu thị đánh. Tiều Cái thống lĩnh binh mã rất đông với 20 thủ lĩnh đánh Tăng Đầu thị, Tiều Cái trúng kế, bị Sử Văn Cung bắn tên chết. Trước khi chết, Tiều Cái di nguyện rằng ai giết Sử Văn Cung thì làm trại chủ Lương Sơn.

Tống Giang được tôn lên làm đầu lĩnh Lương Sơn Bạc. Tống Giang tiếp tục lãnh đạo Lương Sơn đi cứu Lư Tuấn Nghĩa, thu phục Sách Siêu, cùng Lư Tuấn Nghĩa đánh thắng Tăng Đầu thị, đánh Đông Bình, Đông Xương. Lương Sơn có 107 người.

Một ngày, trên Lương Sơn các chiến mã đều bị bệnh, Hoàng Phủ Đoan được Nhất Vũ Tiễn Trương Thanh tiến cử, lên Lương Sơn trị bệnh cho ngựa. Tống Giang dùng lời nói của mình mà khiến Hoàng Phủ Đoan ở lại Lương Sơn. Tống Giang điểm lại thấy anh em có cả thảy 108 người, vui mừng khôn xiết, liền lập đàn tế trời đất. Đến ngày thứ 49 thì tự nhiên trời nổi sấm rồi một luồng hào quang xé bầu trời xẹt xuống phía Nam. Tống Giang cho người đào lên thì thấy một văn bia ghi chữ cổ, nhờ người dịch ra thì ở đó ghi đầy đủ tên của 108 vị đầu lĩnh Lương Sơn Bạc. Tống Giang rất mừng, đổi tên Tụ Nghĩa Sảnh thành Trung Nghĩa Đường. Tống Giang cùng các huynh đệ cắt máu ăn thề, nguyện cùng sống chết. Rồi từ đó tìm cách quy thuận triều đình. 

Triều đình nhiều lần mang quân chinh thảo Lương Sơn. Tống Giang lãnh đạo Lương Sơn đánh bại Đồng Quán 2 lần, đánh bại Cao Cầu 3 lần. Cao Cầu bị bắt lên Lương Sơn, Tống Giang nhờ Cao Cầu về xin vua Tống cho chiêu an và thả Cao Cầu về. Lâm Xung muốn giết Cao Cầu để trả thù nhưng Tống Giang đã ngăn lại. Sau khi được triều đình ân xá cho quy thuận. Tống Giang cùng các anh hùng Lương Sơn Bạc lập được nhiều chiến công hiển hách.

Tống Giang lãnh đạo Lương Sơn đánh nước Liêu, chiếm Đàn Châu, Kế Châu, Bá Châu, U Châu. Trong một trận đánh, quân Lương Sơn trúng trận pháp của quân Liêu, các tướng Lương Sơn bị tách ra từng nơi. Tống Giang suýt bị giết, nhờ Lý Quỳ vung rìu cứu nên thoát. Lại thêm trận đồ của vua Liêu Thiên Tộ Đế tạo ra. Tống Giang phá trận mãi cũng không được. Cửu thiên huyền nữ hiển linh, chỉ cách cho Tống Giang phá trận. Tống Giang làm theo và đánh tan quân Liêu, kéo đến Yên Kinh nước Liêu. Vua Liêu thấy sắp vong quốc nên sai sứ đến hối lộ bọn Cao Cầu nước Tống. Tống Huy Tông nghe lời Cao Cầu, Sái Kinh mà gọi quân Tống Giang rút về. Quân Lương Sơn uổng công xả thân trong một năm qua.

Điền Hổ tự ý xưng Vương, vua Tống sai Tống Giang mang quân đánh dẹp. Trong cuộc chiến, quân Tống Giang trúng yêu thuật của Kiều Đạo Thanh bên Điền Hổ. Tống Giang than trời và rút kiếm tự vẫn thì có thổ địa hiển linh cứu ra. Lòng trung thành của Tống Giang cảm thụ cả trời đất. Quân Lương Sơn có Công Tôn Thắng có pháp thuật, lập nhiều chiến công trong cuộc chiến. Sau năm tháng, quân Điền Hổ bị tiêu diệt. Một số tướng Điền Hổ như Kiều Đạo Thanh, Tôn An, Biện Tường,... quy thuận Tống Giang. Tống Giang rút quân về.

Trên đường Tống Giang về kinh thì nghe tin quân Vương Khánh đánh đến sát kinh đô nhà Tống. Tống Huy Tông hạ lệnh Tống Giang khỏi về kinh mà băng ngang đánh Vương Khánh. Cuộc chiến với Vương Khánh rất căm go, binh mã chết vô số. Các hàng tướng Điền Hổ đầu hàng Tống Giang tử trận gần hết. Ngũ hổ tướng của Lương Sơn cố sức đánh và cuối cùng cũng tiêu diệt được Vương Khánh sau 2 tháng chiến đấu.

Quân Tống Giang về kinh, được Tống Huy Tông ban thưởng hậu hĩnh. Nghe tin Phương Lạp ở Giang Nam xưng Đế, ngang hàng với vua Tống. Tống Huy Tông lo lắng, Tống Giang tình nguyện xuất chinh nam hạ diệt Phương Lạp. Tống Huy Tông chuẩn tấu.

Quân Lương Sơn bắt đầu tổn thất về tướng lĩnh là trong cuộc giao tranh này. Khi hạ được Tô Châu, quân Lương Sơn mất 15 thủ lĩnh. Đánh Hàng Châu, thì mất thêm mấy chục viên tướng. Cuối cùng thì quân triều đình cũng dẹp xong được Phương Lạp, bắt sống được thủ lĩnh, giết chết các tướng giặc, tuy nhiên chịu tổn thất nặng nề.
Cái chết

Sau khi dẹp được giặc Phương Lạp, đầu lĩnh Lương Sơn Bạc còn 36 người về kinh đô. Một số người bỏ đi, không theo đoàn quân thắng trận trở về nên chỉ còn 27 người về tới kinh. Tống Giang được phong chức quan cai trị ở Sở Châu. Do bị gian thần hãm hại nên Tống Giang đã chết khi uống phải rượu vua ban có thuốc độc. Tống Giang biết trong rượu có độc, nhưng vì là ngự tửu nên không thể không uống. Sau khi uống ly rượu có độc đó thì Lý Quỳ tới thăm, vì tính tình cương trực lại thích uống rượu nên liền cầm lên uống nhưng bị Tống Giang ra sức ngăn cản. Đến khi biết rượu đó là rượu vua ban nhưng có độc nhưng trước đó thấy Tống Giang đã uống 1 ly, biết Sư Huynh của mình sẽ chết nên Lý Quỳ 1 hơi uống hết cả vò rượu độc. Rồi sau vài canh giờ sau thì 2 người ôm nhau cùng chết.

Trong lịch sử

Tống Giang được đề cập tới trong Tống sử vào tháng 2 năm 1122 (Tuyên Hòa thứ 3) thời Tống Huy Tông với chi tiết là tri châu Trương Thúc Dạ đem quân đánh Lương Sơn. Tống Giang trúng kế, viên tướng tài ba của Tống Giang là Lư Tuấn Nghĩa bị Trương Thúc Dạ bắt. Tống Giang lui vào cố thủ không ra. Trương Thúc Dạ vừa đánh vừa chiêu hàng. Tống Giang chấp nhận quy hàng và làm Sở Châu an phủ sứ cho triều đình. Không có gì giống như được đề cập trong Thủy hử.

Thủy Hử hay Tam Quốc Diễn Nghĩa và một số tiểu thuyết khác được viết dựa trên lịch sử nhưng vì người viết là nhà văn nên tính chính xác không cao. Phần nữa là để cho tác phẩm có nhiều tính tiết gay cấn, lôi cuốn để cuốn hút người đọc nên tác giả đã  thêm bớt và có phần hư cấu thêm cho các nhân vật trở thành những anh hùng. Vì thế mang các nhân vật trong truyện để so sánh với các nhân vật ngoài đời thực là không nên.